Luận văn nghiên cứu khí động lực học máy làm sạch nilon MLSNL 30

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu khí động lực học máy làm sạch nilon mlsnl 30, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Cơ Khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý luận của đề tài

Tài liệu "Nghiên cứu khí động lực học máy làm sạch nilon MLSNL 30" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thiết kế và hiệu suất của máy làm sạch nilon, với trọng tâm vào các yếu tố khí động lực học ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của thiết bị. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động của máy mà còn chỉ ra những lợi ích trong việc tối ưu hóa quy trình làm sạch, từ đó nâng cao năng suất và giảm thiểu chi phí sản xuất.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu ứng xử của nền đất yếu gia cố bằng trụ đất xi măng có cốt cứng, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về cách cải thiện tính ổn định của nền đất trong xây dựng. Ngoài ra, tài liệu Phân tích rủi ro tài chính dự án xây dựng chung cư ở thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tài chính trong các dự án xây dựng. Cuối cùng, tài liệu Điều khiển đồng bộ robot cáp song song có thể cung cấp thêm thông tin về công nghệ tự động hóa trong sản xuất, liên quan đến việc tối ưu hóa quy trình làm sạch.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn giúp bạn áp dụng các nguyên lý khí động lực học vào thực tiễn một cách hiệu quả hơn.

Trích đoạn nội dung tài liệu

Lý do chọn đề tài Nilon do nhà hóa học Anh Alexander Parkes phát minh, ra đời cách đây khoảng 150 năm [5, 6]. Nilon thường dùng dưới dạng túi, được sản xuất từ nhựa polyethylene có nguồn gốc từ dầu mỏ và quá trính tự phân hủy của nó diễn ra rất chậm. Với tình tiện dụng, túi nilon được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống dưới dạng bao bí, đóng gói. Túi nilon được dùng làm bao chứa các loại nông sản, thực phẩm, vật liệu xây dựng, hóa chất, . ở cả dạng bột, nhão và lỏng. Không những thế, túi nilon còn được dùng làm lớp bảo vệ ngoài, hay trang trì cho các bao bí. Trong đời sống, túi nilon còn dùng dưới dạng túi, cặp sách, . Những đặc điểm ưu việt trong sản xuất và tiêu dùng về việc sử dụng túi nilon đã làm lu mờ các tác hại xấu của nó đối với môi trường khi thải bỏ. Đó cũng là lý do chình yếu giải thìch tại sao túi nilon lại được dùng rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp những cảnh báo về tác hại to lớn và nhiều mặt tới môi trường, sức khỏe và trở thành vấn nạn trong quản lý môi trường ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chình ví vậy, trong rác thải hàng ngày có một khối lượng khá lớn túi nilon, gọi chung là rác thải nilon. Ở nước ta, việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong các hoạt động sinh hoạt xã hội, chủ yếu và đặc biệt là loại túi siêu mỏng, thể hiện sự dễ dãi của cả người cung cấp cũng như người sử dụng; người bán sẵn sàng đưa thêm một hoặc vài chiếc túi nilon cho người mua khi được yêu cầu; người mua ìt khi mang theo vật đựng (túi xách, làn.) ví biết chắc chắn rằng khi mua hàng hóa sẽ có túi nilon kèm theo để xách về. Ngày nay người ta chủ yếu dùng các giải pháp sau để khống chế và xử lý rác thải từ nilon: - Một là thu gom và tái chế; - Hai là giảm ìt hoặc cấm sử dụng những loại nilon khó phân huỷ; 2 - Ba là khai thác và mở rộng sử dụng túi làm bằng giấy hoặc là chế phẩm nhựa có thể tự phân huỷ. để thay thế những túi nhựa không dễ bị phân huỷ. Thực tế xã hội cho thấy, giải pháp thu gom, tái chế sẽ là giải pháp phù hợp không những trong thời gian hiện tại mà còn cả trong thời gian tương lai bởi tình hiệu dụng, kinh tế của việc sử dụng túi nilon. Hiện nay sản xuất trong nước và trên thế giới đều sử dụng các loại sàng phân loại kết hợp với biện pháp rửa để làm ssạch nilon. Việc đề xuất đưa ra giải pháp tách các tạp chất cơ học có trong khối nilon từ rác thải bằng máy làm sạch nilon theo nguyên lý đập – hút của tác giả Nguyễn Thị Kiều Hạnh là một giải pháp tiên tiến, hiên đại, mang tình mới cả về công nghệ lẫn thiết bị làm sạch. Cho nên việc nghiên cứu khì động lực học máy làm sạch nilon MLSNL – 30 là thiết bị lần đầu tiên được đế xuất có tình mới, tình cấp thiết và ý nghĩa khoa học sâu sắc. Kết quả nghiên cứu nhằm giải thìch cơ chế làm việc của loại thiết bị này cũng như khả năng ứng dụng vào sản xuất để góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách hiện nay về nạn “ô nhiễm trăng ở nước ta” Được sự chấp thuận của Ban chủ nhiệm khoa Cơ khì, phòng Đào tạo sau đại học và Ban giám hiệu trường đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Như Nam, tôi tiến hành đề tài: c u c c s c S – 30” 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 1) Xây dựng phương trính toán học biểu diễn sự phụ thuộc của các thông số khì động học trong buồng làm sạch là áp suất và lưu lượng tại mỗi vị trì trên chiều dài buồng làm sạch vào số vòng quay của trống làm sạch. 2) Xây dựng hệ phương trính vi phân mô tả chuyển động của khối nilon dưới tác động của răng đập và chuyển động quán tình trong buồng làm sạch. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là máy làm sạch nilon MLSNL – 30. Đây là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố Hồ Chì Minh : “Nghiên cứu máy làm sạch nilon theo nguyên lý đập rũ ứng dụng trong công nghệ tái chế nilon từ 3 nguồn rác thải” do ThS. Nguyễn Thị Kiều hạnh và TS. Nguyễn Như Nam chủ nhiệm và trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chì Minh là đơn vị chủ trí. Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm khì động lực học máy làm sạch nilon MLSNL – 30. Phƣơng pháp nghiên cứu Áp dụng các phương pháp điều tra thống kê, tra cứu tài liệu để nghiên cứu phần nội dung tổng luận và cơ sở lý luận của đề tài. Áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm để xây dựng phương trính toán học dạng đa thức bậc II mô tả mô hính khì động học biểu diễn sự phụ thuộc của hai thông số áp suất toàn phần và lưu lượng trung bính trong buồng làm sạch của MLSNL – 30 vào số vòng quay của trống làm sạch n [vg/ph] ở mối vị trì trên chiều dài trống làm sạch hay chiều dài buồng làm sạch. Các thông số TƯH của mô hính khì động học được xác định bằng TƯH các mô hính toán học được lập theo phương pháp TƯH đơn và đa mục tiêu. Quá trính tình toán TƯH được tiến hành trên máy tình điện tử bằng phần mềm của các tác giả Nguyễn Như Nam, Trần Thị Thanh, Nguyễn Trì Tấn (1998). Sử dụng nguyên lý Đalămpe [3, 4] để xây dựng hệ phương trính vi phân mô tả chuyển động của khối nilon trong buồng làm sạch của MLSNL – 30. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  Ý nghĩa khoa học của đề tài là: Thông qua nghiên cứu khì động lực học trong buồng làm sạch của MLSNL – 30 để làm rõ cơ chế hoạt động của máy và phục vụ công tác thiết kế, chế tạo cũng như TƯH MLSNL – 30.  Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là: Tham gia giải quyết vấn nạn môi trường ở nước ta. Nội dung của luận văn được lồng ghép với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố Hồ Chì Minh. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu Cho đến thời điểm hiện tại, ở trong và ngoài nước chỉ duy nhất có công trình nghiên cứu của ThS. Nguyễn Thị Kiều Hạnh [6, 7] ở dạng đề tài nghiên cứu khoa học cấp Cơ sở (trường đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chì Minh) và cấp Thành phố Hồ Chì Minh sử dụng nguyên lý đập – hút cho máy làm sạch nilon, còn lại chưa có bất kỳ công bố nào về sử dụng nguyên lý đập – hút để phân loại, làm sạch nguyên liệu nói chung và làm sạch rác thải nilon nói riêng. Các kết quả nghiên cứu về nguyên lý đập – hút ở chỉ ứng dụng cho máy đập dọc trục để tách hạt khi thu hoạch cây có hạt. Ví vậy phần tổng luận các công trính đã công bố về vấn đề nghiên cứu chỉ trính bày về máy đập – hút sử dụng tách hạt trong thu hoạch cây có hạt. Kết quả nghiên cứu về máy làm sạch nilon theo nguyên lý đập hút MLSNL – 30 được trính bày trong mục 1.2 phần cơ sở lý luận của đề tài. C c ết quả c u ước Năm 1954 А. Vưsoki [22] đã có công trính biên soạn về đo lực cản các máy nông nghiệp trong đó có máy đập dùng trong thu hoạch cây có hạt với tên gọi “ Động lực học máy nông nghiệp”. Alpherrov [19] đã có công trính biên soạn về động lực học trống đập của máy gặt đập liên hợp với tên gọi “Động lực học máy liên hợp thu hoạch ngũ cốc”. Baxoi [20] đã có công trình biên soạn khá đầy đủ cả về lý thuyết và cấu tạo trống đập trong thu hoạch cây có hạt với tên gọi “ Lý thuyết cấu tạo và tình toán máy nông nghiệp”. Baxoi đã nghiên cứu và tổng kết các kết quả nghiên cứu trước đó trong công trình này về: cơ sở vật lý đập tách hạt bằng trống đập; các loại và quá trình công nghệ của các trống đập; khả năng cho qua trống đập; sự phân tách hạt trong trống đập; phương trính cơ bản của trống đập; xác định các thông số cơ bản của trống đập; cân bằng trống đập. Giáo trính tổng kết, biên soạn của Ie. Baxoi đã được dịch, làm tài liệu tham khảo chình, giáo trính giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới. Huynh và ctv [28] đã nhận xét quá trính phân tách hạt trong buồng đập của máy đập dọc trục là quá trính ngẫu nhiên và đưa ra mô hính toán học là một hàm mật độ : 1 1/Ti f i (t)  e (1.1) Ti Trong đó: t – biến thời gian; Ti – ước lượng trung bính thời gian để mật độ hạt đạt xác suất fi; i – chỉ số phụ, i = 1 cho hạt được tách ra, i = 2 cho hạt di chuyển để phân ly, i = 3 cho sự phân ly hạt ở máng sàng lõm. Xuất phát từ mô hính lý thuyết: dU Ei  .M Trong đó: U – khối lượng hạt chưa tách; N – số lần va đập; Ei – năng lượng chi phì cho va đập; En – năng lượng cần thiết để tách hạt; M – khối lượng hạt đã được tách. Gregory (1988) đã xây dựng phương trính phân ly tổng quát : F1  e r.3) Trong đó: r – tỉ lệ hạt trên rơm; B – tốc độ quay trống đập, vg/ph; ‎ En – năng lượng cần thiết để tách hạt, J/kg; W – chiều rộng buồng đập, m; F – lực liên kết của hạt với rơm, N; R – lượng cung cấp vào trống đập, kg/ph; f(2,3) – hàm số chưa biết dùng đánh giá quá trính phân ly. 6 Với: 2 – tỉ số giữa chiều dài máng trống L với khe hở giữa trống đập và máng trống C. 3 – tỉ số giữa chiều dài máng trống L với đường kình trống đập D. Phương trính (1.3) khá tương đồng với các công bố của Phan Hiếu Hiền (1973), Ie. Baxoi (1978), … trước đó nhưng ở dạng đơn giản hơn. Bằng phương pháp thực nghiệm, J. Gregory (1988) đã xác định được phương trính phân ly hạt mô tả tỉ số khối lượng hạt chưa được tách trên toàn bộ khối lượng hạt như công thức (1.3) với hệ số tương quan R2 = 0,97, độ tin cậy p = 0,999.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ