Chương 1 nêu lên một số lý do chính dẫn đến việc xây dựng lên mô hình mạng chuyển mạch nhãn đa giao thức là mong muốn xây dựng hệ thống có khả năng hỗ trợ truyền tải đa giao thức trên một hệ thống mạng. - Công nghệ được phát triển phù hợp với những yêu cầu về điều khiển lưu lượng trong giai đoạn bùng nổ dịch vụ và nhu cầu tăng cao của băng thông cung cấp dịch vụ. - Một số ứng dụng cơ bản mà công nghệ MPLS có thể đem lại. - Sự so sánh về những đặc trưng của mạng MPLS so với mạng IP truyền thống.
Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƢƠNG II CẤU TRÚC CỦA MẠNG MPLS 2. Định nghĩa về nhãn trong MPLS - Nhãn là một thẻ có chiều dài cố định mà MPLS sử dụng làm cơ sở để chuyển thông tin. Nhãn trong MPLS bao gồm hai loại sau: Prefix Labels ( LDP, MP-BGP, PIM). - Để định nghĩa chính xác về nhãn, ta cần phải đi phân tích về cấu trúc khung và cấu trúc tế bào trong MPLS.
Cấu trúc khung của nhãn trong MPLS - Trong MPLS chế độ khung, các bộ định tuyến MPLS đơn thuần chỉ trao đổi các gói IP được hiểu là các gói IP được dán nhãn. Trong mạng MPLS, chuyển mạch nhãn hoạt động theo phương pháp phân tích các tiêu đề khung và đưa các nhãn vào vị trí khung, các nhãn được sắp vào ngăn xếp hoặc các nhãn được chuyển đổi phụ thuộc vào vị trí của LSR trong mạng. Lớp Data- link sử dụng trong chế độ này thiết lập các kết nối lớp 2 sử dụng các giao thức HDLC/PPP, Ethernet, hoặc ATM (Với ATM, các nhãn sử dụng cấu trúc tế bào – Cell Mode). - Một nhãn MPLS bao gồm các phần như Hình 2.1: EXP: Experimental bao gồm 3 bits thực nghiệm.
S: Bottom of Stack gồm 1 bit, thực hiện chức năng ngăn xếp cuối cùng. Khi mỗi nhãn được gán một chức năng thì ngăn xếp nhãn sẽ thiết lập theo thứ tự vị trí của mỗi nhãn. Nhãn cuối ngăn xếp được thiết lập lên 1 trong khi các nhãn khác có bit này là 0. TTL: Time To Live gồm 8 bits mang ý nghĩa là thời gian sống, đây là một dạng bản sao của IP TTL.
Giá trị TTL được giảm đi một khi đi qua mỗi chặng để tránh hiện tượng lặp. Thường dùng khi người điều hành mạng muốn che dấu cấu hình mạng bên dưới khi tìm đường từ mạng bên ngoài tới. Gói tin sẽ bị hủy khi TTL của gói trả giá trị 0. LABEL EXP S TTL STACK 20 Bits 3 Bits 1 8 Bits Hình 2.1 Nhãn trong MPLS Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 - Các ngăn xếp nhãn được thực thi khi có sự trao đổi giữa các dịch vụ MPLS cơ sở như MPLS VPN, MPLS Engineering như trên hình 2.
Trong MPLS VPN, nhãn thứ hai trong ngăn xếp được định nghĩa là VPN. Trong MPLS Engineering, nhãn trên cùng được định nghĩa là điểm cuối của kênh và nhãn thứ hai được định nghĩa là điểm đích của kênh. Đối với lớp 2, VPN qua MPLS như là AtoM và VPLS, nhãn đầu tiên được định nghĩa là Tiêu đề của kênh hoặc điểm cuối, và nhãn thứ hai định nghĩa là kênh ảo (VC).2 Ngăn xếp Nhãn trong MPLS 2. Cấu trúc tế bào của nhãn trong MPLS - Khi sử dụng mạng ATM, MPLS không áp dụng chế độ khung mà sử dụng chế độ tế bào.
Các tế bào được sử dụng để truyền dữ liệu trong mặt phẳng dữ liệu.Khi các nhãn ATM được sử dụng trong mạng MPLS, chế độ vận hành của MPLS được gọi là chế độ MPLS tế bào. - Trong chế độ MPLS tế bào, các LSR trong mạng là các chuyển mạch ATM, chuyển thông tin dựa trên cơ sở tiêu đề của ATM. Nếu ATM LSR thực hiện chức năng tương tự như chuyển mạch ATM thì các phần tử trong mặt phẳng điều khiển được gọi là bộ điều khiển chuyển mạch nhãn (Label Switch Controller - LSC) được trang bị cho việc truyền thông tin trong mặt phẳng điều khiển. - Khi ATM LSR có một phần LSC mở rộng cho việc trao đổi thông tin trong mặt phẳng điều khiển, chuyển mạch ATM trong ATM LSR chỉ thực hiện chuyển thông tin trong mặt phẳng điều khiển.
Để kích hoạt MPLS trong Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 mạng ATM, các trường VPI/VCI trong tiêu đề ATM được sử dụng như là nhãn. Trước đó, một nhãn được lồng vào giữa phần tiêu đề của ATM và tiêu đề của IP, và trường VPI/VCI của tiêu đề ATM thực hiện chuyển các tế bào. Cơ chế này cho phép mặt phẳng dữ liệu truyền các gói tin đã được gán nhãn. Các gói tin mặt phẳng điều khiển như là các giao thức định tuyến và các giao thức phân phối nhãn được trao đổi giữa các ATM LSR biên thông qua việc điều khiển các VC ( control virtual circiut).3 Các công nghệ kết hợp với MPLS - Cấu trúc các trường trong MPLS ATM trong Hình 2.
GFC (Generic Flow Control): Điều khiển luồng chung. VPI (Virtual Path Identifier): nhận dạng luồng ảo. VCI (Virtual Channel Identifier): nhận dạng kênh ảo. PT (Payload Type): Chỉ thị kiểu trường tin.
CLP (Cell Loss Priority): chức năng chỉ thị ưu tiên huỷ bỏ tế bào. HEC (Header error check): kiểm tra lỗi tiêu đề. Mặt phẳng chuyển tiếp và Mặt phẳng điều khiển - Một nút mạng của MPLS có hai mặt phẳng: Mặt phẳng chuyển tiếp MPLS và mặt phẳng điều khiển MPLS, mô tả trong hình 2. Nút mạng MPLS có thể thực hiện định tuyến lớp 3 hoặc chuyển mạch lớp 2.
Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Cấu trúc điều khiển trong MPLS - Mặt phẳng chuyển tiếp sử dụng một cơ sở thông tin chuyển tiếp nhãn (LFIB – Label Forwarding Information Base) để chuyển tiếp các gói. Mỗi nút mạng MPLS có hai bảng liên quan đến việc chuyển tiếp là : cơ sở thông tin nhãn (LIB – Label Information Base) và LFIB. LIB chứa tất cả các nhãn được nút mạng MPLS cục bộ đánh dấu và ánh xạ của các nhãn này đến các nhãn được nhận từ láng giềng (MPLS neighbor) của nó. LFIB sử dụng một tập con các nhãn chứa trong LIB để thực hiện chuyển tiếp gói.
- Mặt phẳng điều khiển chịu trách nhiệm tạo ra và lưu trữ LFIB. Tất cả các nút mạng MPLS phải chạy một giao thức định tuyến IP để trao đổi thông tin định tuyến đến các nút mạng MPLS khác trong mạng. Các nút mạng MPLS trên nền ATM sẽ dùng một bộ điều khiển nhãn (LSC – Label Switch Controller) để tham gia xử lý định tuyến. Thuật toán chuyển tiếp nhãn - Thuật toán chuyển tiếp nhãn ở đây sẽ phân tích vấn đề về sự khác nhau giữa việc chuyển tiếp trong mạng IP và mạng MPLS.
Ở đây ta sẽ tập trung phân tích về các cơ chế chuyển tiếp dựa trên các bảng FIB, LIB, LFIB trong mạng MPLS. - Các cơ chế chuyển tiếp trong MPLS và IP bao gồm sự khác nhau như sau: IP chuyển tiếp dựa trên cơ sở địa chỉ IP đích và FIB. MPLS chuyển tiếp dựa trên cơ sở nhãn MPLS và LFIB. Cả MPLS và IP đều chuyển tiếp dựa trên các đích lân cận (hop-by- hop).IP chuyển tiếp bao gồm sự phân loại các gói tin tại mỗi đích, Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 trong khi MPLS chuyển tiếp chỉ bao gồm phân loại dựa trên các LSR lối vào.
Phân phối nhãn - Trong hệ thống mạng MPLS có ba giao thức thực hiện phân phối nhãn là: Tag Distribution Protocol Label Distribution Protocol RSVP (Resource Reservation Protocol) - RSVP sử dụng trong kỹ thuật điều khiển lưu lượng của mạng MPLS. - TDL và LDP thực chất là hai phiên bản khác nhau thực hiện chung một chức năng. TDP là phiên bản cũ và LDP đã được chuẩn hóa. Do vậy, LDP được sử dụng để phân phối lại nhãn trong mạng MPLS.
Duy trì nhãn - Chế độ duy trì nhãn tự do (liberal label retention mode): duy trì kết nối giữa nhãn và mạng đích nhưng không lưu trữ trạm tiếp theo của đích đến đó. LSR có thể chuyển tiếp gói ngay khi IGP hội tụ và số lượng nhãn lưu giữ rất lớn cho từng đích đến cụ thể nên chiếm dụng bộ nhớ lớn. - Chế độ duy trì nhãn trường xuyên (conservative label retention mode): duy trì nhãn dựa theo thông tin phản hồi LDP hay TDP của trạm tiếp theo. Nó hủy các kết nối từ LSR xuôi dòng mà không phải là trạm tiếp theo của đích đến chỉ định nên giảm sự chiếm dụng bộ nhớ.
Các loại nhãn đặc biệt - LSR thực hiện vai trò điều khiển hoán đổi, sắp đặt, bố trí nhãn phụ thuộc vào vị trí của chúng trong mạng MPLS. Mô tả chi tiết trong hình 2.5 - Trong trường hợp nào đó, nhãn đến được gán thành các nhãn ra đặc biệt mà được điều khiển bởi các router hoặc LSR hướng lên. - Các nhãn được truyền đi bởi các LSR hướng xuống và được phân phối bởi các LSR theo hướng lên. Nguyễn Hoàng Chƣơng Luận văn tốt nghiệp cao học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.5 Quá trình gán nhãn trong MPLS - Một số loại nhãn truyền trong mạng có thể được kết hợp được với gói tin được mô tả như sau: Không gán thẻ (Untagged): Gói tin đến của mạng MPLS được chuyển đổi thành gói tin IP và được chuyển tới đích.
Dạng gói tin này được sử dụng trong MPLS VPN. Implicit-null : Nhãn này được gán khi nhãn trên cùng của gói tin tới trong mạng MPLS được gỡ ra và kết quả là gói MPLS hoặc IP được chuyển tiếp đến điểm mạng tiếp theo của thiết bị định tuyến xuôi. Giá trị được gán cho nhãn này là 3. Nhãn này được sử dụng trong mạng MPLS cho những trạm gần cuối mạng MPLS.
Explicit-null Label : Nhãn này được gán để duy trì giá trị EXP của nhãn trên cùng của gói tin đến. Nhãn trên cùng được hoán đổi thành giá trị nhãn là 0 và được chuyển tiếp như một gói MPLS tới trạm kế xuôi dòng. Nhãn này được sử dụng trong mạng MPLS sử dụng QoS. Aggregate: trong nhãn này, gói tin đến trong mạng MPLS được chuyển đổi thành gói IP (bằng việc gỡ bỏ tất cả các nhãn nếu ngăn xếp nhãn được tìm thấy trong gói tin đến) và một FIB thực hiện định danh giao diện ra tới đích.