đặt vấn đề trải rộng can nhiễu bằng hệ đa mã bởi chỉ sử dụng một chuỗi mã để thay cho việc trải từng dòng trong M dòng dữ liệu được ghép kênh, làm cho nhiễu không tăng tuyến tính với tốc độ dữ liệu. Dù thế nào thì hệ thống CDMA đa mã cũng không thể đạt được độ lợi phân tập tần số của điều chế đa sóng mang. Hệ thống CDMA đa sóng mang đa mã (MTC-MC CDMA ) là sự kết hợp hoàn hảo hai hệ thống CDMA đa sóng mang và hệ thống CDMA đa mã, nó có được ưu điểm của cả hai hệ thống như: (i) tốc độ dữ liệu thay đổi mà không mở rộng nhiễu và (ii) khả năng chống kênh fading đa đường. Hơn nữa, hệ thống này có cả hệ số trải miền tần số và trải miền thời gian để tận dụng hài hòa cả phân tập và trung bình hóa can nhiễu của các đặc tính của hệ thống điều chế đa sóng mang và CDMA.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 10 - Hiệu năng của hệ thống MTC-MC CDMA được suy ra theo biểu thức giải tích và cải tiến hệ thống từ hệ thống MC-CDMA, cũng thông qua những phân tích và được mô phỏng trên kênh fading chọn lọc tần số. Nội dung của những phần tiếp theo của luận văn gồm: Phần I : Giới thiệu về các hệ thống CDMA lai ghép PhầnII : Hệ thống lai ghép CDMA đa sóng mang đa mã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giới thiệu các hệ thống CDMA lai ghép 1.1 Kỹ thuật trải phổ CDMA [9] [10] Kỹ thuật trải phổ CDMA, về lý thuyết bắt nguồn từ những ý tưởng của C. Kỹ thuật này đã được sử dụng từ thế chiến lần thứ II với mục đích bảo đảm chất lượng các cuộc thông tin và không bị phát hiện.
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự tiếp tục phát triển kỹ thuật này nhằm tăng cường khả năng chống nhiễu của tín hiệu, còn các nhà thiết kế vệ tinh sử dụng kỹ thuật trải phổ để ngăn sự quá tải của các bộ phát đáp analog. Kỹ thuật trải phổ có nguyên lý thực chất rất đơn giản: tín hiệu trước hết được điều chế, mã hóa sao cho gần giống như tín hiệu nhiễu, sau đó được truyền đi và được khôi phục lại tại máy thu đầu cuối. Việc biến đổi (mã hóa) tín hiệu nhằm bảo vệ tín hiệu khi nó được truyền trên phương tiện truyền dẫn. Vì vậy, chất lượng của tín hiệu sau khi được khôi phục phụ thuộc vào kỹ thuật điều chế và mã hóa.
Mục đích của việc điều chế và mã hóa tín hiệu là biến đổi tín hiệu thành nhiễu. Càng giống nhiễu bao nhiêu, càng khó thâm nhập bấy nhiêu do nhiễu là hoàn toàn ngẫu nhiên. Hơn nữa, tín hiệu càng được trải khắp phổ tần bao nhiêu thì càng được bảo vệ bấy nhiêu, ngay cả khi một phần phổ của tín hiệu không được khôi phục, tín hiệu vẫn không bị mất.1 Nguyên lý trải phổ theo DS-CDMA TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 12 - Hiện nay, người ta sử dụng hai phương pháp chính để mã hóa tín hiệu: Phương pháp nhảy tần FH (Frequence Hopping) và phương pháp dãy trực tiếp DS (Direct Sequence). Phương pháp trải phổ trực tiếp DS-SS trong hệ thống CDMA được sử dụng khi cần tốc độ truyền cao.
Phương pháp này trộn mã của tín hiệu gốc với mã giả ngẫu nhiên của tín hiệu trải phổ có tốc độ rất cao. Tín hiệu thu được có chứa tín hiệu gốc song hoàn toàn bị che mờ đi bởi tín hiệu mã giả ngẫu nhiên này. Đồng thời, tín hiệu mã có mức độ trải phổ cao hơn (do tần số tỷ lệ nghịch với thời gian) nên tín hiệu thu được là tín hiệu trải phổ của tín hiệu gốc. Các bít mã của tín hiệu mã trải phổ (được gọi là chip) sinh ra bởi một máy phát tín hiệu giả ngẫu nhiên với tốc độ cao, như biều diễn trong hình 1.
Tín hiệu tổng hợp nhận được ở máy thu, quá trình giải trải phổ (nén phổ), tức là trộn nó với tín hiệu mã đồng bộ với tín hiệu mã trải phổ gốc tại máy phát sẽ khôi phục lại tín hiệu ban đầu. Ở phương pháp này, nếu máy thu không biết được mã của máy phát thì không thể khôi phục được tín hiệu gốc ban đầu. Điều đó cho phép tất cả các tín hiệu có thể được truyền đồng thời tới tất cả các máy thu. Trong hệ thống DS-CDMA, nhiều người sử dụng cùng dùng chung một băng tần và phát tín hiệu của họ đồng thời.
Máy thu sử dụng tín hiệu mã giả ngẫu nhiên chính xác để lấy ra tín hiệu mong muốn của mình bằng cách nén phổ. Các tín hiệu khác xuất hiện ở dạng nhiễu phổ rộng công suất thấp tựa tạp âm. Tín hiệu trải phổ phản ứng tốt đối với kênh fading đa đường. Trong kênh đa đường, tín hiệu gốc bị phản xạ bởi những chướng ngại vật như các công trình, đồi núi.
Do đó, máy thu nhận được nhiều bản sao của tín hiệu gốc với các độ trễ khác nhau. Nếu mức độ trễ của các bản sao lớn hơn một chip, thì máy thu có thể phân tách chúng bằng máy thu RAKE.2 chỉ ra sơ đồ DS-CDMA (gồm máy phát, phổ và máy thu RAKE). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 a) Máy phát; b) Phổ công suất phát; c) Máy thu RAKE Từ các ưu điểm về dung lượng, tính đơn giản trong quy hoạch tần số, chuyển giao mềm, chống nhiễu, chống phá hoại, bảo mật … công nghệ CDMA băng rộng là kỹ thuật đa truy cập vô tuyến được đề nghị sử dụng trong thông tin di động thế hệ 3 và tương lai với đủ loại hình dịch vụ.2 Hệ thống CDMA đa sóng mang [1] [5] [10] 1.1 Mô tả hệ thống truyền dẫn đa sóng mang (MCM) Trong những năm gần đây, thông tin vô tuyến dựa trên kỹ thuật điều chế đa sóng mang MCM được quan tâm nghiên cứu rộng rãi. Giải pháp kỹ thuật này đã được đề xuất trong thông tin tốc độ cao từ những năm 50, hệ thống đầu tiên sử dụng điều chế đa sóng mang MCM (Mutli-Carrier TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 14 - Modulation) là hệ thống vô tuyến KINEPLEX và KATHRYN sử dụng trong quân đội, với 20 sóng mang con, mỗi sóng mang truyền dữ liệu 150bit/s.
Sau này với sự phát triển của công nghệ xử lý tín hiệu số, việc xử lý tín hiệu trên các sóng mang trực giao được thiết lập hiệu quả bởi biến đổi Fourrier rời rạc DFT và kỹ thuật ghép kênh phân chia tần số trực giao OFDM càng được quan tâm nhiều hơn trong thông tin vô tuyến. Kỹ thuật OFDM là trường hợp riêng của điều chế đa sóng mang. Thậm chí trong một số tài liệu, người ta còn gọi chung là kỹ thuật điều chế đa sóng mang trong thông tin tốc độ cao bởi vì dòng dữ liệu phát được truyền qua các sóng mang tốc độ thấp hơn. Điều đáng nói ở đây là OFDM được nhìn theo cả kỹ thuật điều chế và kỹ thuật ghép kênh.
Nói tóm lại, nguyên tắc của OFDM cũng như kỹ thuật điều chế đa sóng mang là sử dụng tách các kênh thông tin băng rộng thành các kênh thông tin băng hẹp và thực hiện truyền song song thông tin trên nhiều sóng mang tương ứng các kênh băng hẹp này. Một trong những lý do OFDM được quan tâm nhiều là OFDM rất hiệu quả đối với fading chọn lọc tần số và nhiễu băng hẹp. Đối với hệ thống , fading hoặc nhiễu ảnh hưởng rất mạnh đến chất lượng hệ thống, nhưng đối với hệ thống đa sóng mang chỉ có một phần nhỏ sóng mang bị ảnh hưởng do đó chất lượng của toàn bộ hệ thống không bị ảnh hưởng nếu chúng ta sử dụng các giải thuật tách tín hiệu trên miền tần số. Hơn nữa, vì tốc độ dữ liệu trên mỗi sóng mang con trong truyền dẫn OFDM nhỏ hơn nhiều so với tốc độ dữ liệu ban đầu nên ảnh hưởng của độ trải trễ hay hiệu ứng xuyên ký hiệu ISI giảm, các bộ cân bằng trên miền tần số trở nên đơn giản dẫn đến cấu trúc máy thu không phức tạp và khả năng thích nghi linh động với các loại hình dịch vụ khác nhau khi sử dụng xử lý tín hiệu số.
Một điều quan trọng trong việc truyền dẫn đa sóng mang dựa theo OFDM trong kênh vô tuyến di dộng đó là kênh di động có thể xem như là không thay đổi theo thời gian trong một ký hiệu OFDM và fading trên mỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 15 - sóng mang là fading phẳng. Do vậy thời khoảng ký hiệu OFDM phải nhỏ hơn thời gian kết hợp của kênh (t) c và khoảng cách giữa các sóng mang phải nhỏ hơn băng thông kết hợp của kênh Bc. Hệ thống truyền dẫn đa sóng mang số áp dụng kỹ thuật OFDM biểu diễn trên hình 1.3 Hệ thống truyền dẫn đa sóng mang áp dụng OFDM Hệ thống thông tín với điều chế đa sóng mang truyền các ký hiệu Sl trên Nc sóng mang, l = 0, 1,…,Nc-1, với Sl là các tín hiệu đầu vào có khoảng thời gian là Td. Sau khi biến đổi nối tiếp sang song song khoảng thời gian của ký hiệu OFDM là Ts = NcTd (1.1) Với việc sử dụng dạng xung vuông, sự trực giao giữa các tín hiệu trên các sóng mang đạt được bằng cách chọn khoảng cách giữa các sóng mang bằng nghịch đảo của thời khoảng ký hiệu trên sóng mang Ts là 1 f s (1.2) Ts TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 16 - Khi đó, ký hiệu nguồn đầu vào Sl , l = 0, 1,…,Nc-1 được điều chế trên Nc sóng mang có thể xem như là một ký hiệu OFDM và đường bao phức của nó là: 1 N c 1 x(t ) N c l 0 S l e j 2f l t , 0 t Ts (1.3) fl là tần số của các sóng mang con.
Đóng vai trò chính trong OFDM là thiết lập biến đổi ngược rời rạc Fourier IDFT hay hiệu quả hơn là biến đổi ngược nhanh Fourier IFFT. Các mẫu đường bao phức x(t) của ký hiệu OFDM có thể thu được sau khi biến đổi IFFT của mẫu tín hiệu lối ra là 1 N c 1 j 2l / N c x Sl e Nc l 0 , 0, 1,.4) Khi số sóng mang con tăng, khoảng thời gian của ký hiệu OFDM Ts trở lên rất lớn so với thời khoảng đáp ứng xung max của kênh và khi đó có thể giảm được ISI. Tuy nhiên, để hoàn toàn tránh được ISI và duy trì sự trực giao giữa các tín hiệu trên các sóng mang, tức là tránh được cả ICI thì khoảng bảo vệ với thời khoảng Tg max phải được chèn vào giữa các ký hiệu OFDM cạnh nhau.