mở đầu quy trình thanh toán qua việc sử dụng thẻ khi thanh toán. Mỗi khi thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ và ký xác nhận vào biên lai thanh toán. Chủ thẻ không phải thanh toán ngay mà sẽ bị trích nợ từ tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc nộp tiền mặt tại ngân hàng phát hành khi đến hạn thanh toán. Theo thông lệ, chủ thẻ chính còn có thể yêu cầu ngân hàng phát hành thêm thẻ phụ, và phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu, cùng lãi phát sinh.
Tuy chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản, nhưng chủ thẻ chính mới là người có trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán với ngân hàng phát hành. Ngân hàng thanh toán Ngân hàng thanh toán là cầu nối trung gian giữa chủ thẻ và đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ. Đồng thời, ngân hàng thanh toán cũng là thành viên chính thức của các tổ chức thẻ để có thể tham gia quá trình thanh toán thẻ quốc tế. Ngân hàng thanh toán chấp nhận các loại thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ trên địa bàn.
Khi đó, ngân hàng thanh toán sẽ cung cấp cho các đơn vị chấp nhận thẻ thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn vị cách thức vận hành, cũng như quản lý và xử lý những giao dịch thẻ tại các đơn vị này. Thông thường, ngân hàng thanh toán sẽ thu từ các đơn vị chấp nhận thẻ một mức phí chiết khấu cho việc chấp nhận thanh toán thẻ của đơn vị, có thể tính bằng phần trăm trên giá trị mỗi giao dịch hoặc tính theo tổng giá trị giao dịch thẻ. Mức chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với đơn vị chấp nhận thẻ. Trên thực tế rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng thanh toán thẻ.
Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của họ là chủ thẻ còn với tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ. Đơn vị chấp nhận thẻ Các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán được gọi là đơn vị chấp nhận thẻ. Các ngành kinh doanh của các đơn vị chấp nhận thẻ rất đa dạng, như: nhà hàng ăn uống, khách sạn, sân bay. Các điểm chấp nhận thẻ sẽ để biểu trưng của thẻ tại quầy thanh toán, hoặc phía trước các cửa hàng, để thông tin đến khách hàng loại thẻ có thể sử dụng.
Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một khoản phí chiết khấu nhất định, nhưng bù lại, các đơn vị chấp nhận thẻ sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, bán được nhiều hàng hóa hơn. Bằng cách chấp nhận thẻ thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ đã tạo thêm sự tiện lợi, dễ dàng trong khâu thanh toán, cũng như tác phong chuyên nghiệp trong khâu phục vụ khách hàng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như lợi nhuận của đơn vị. Để trở thành đơn vị chấp nhận thẻ của một ngân hàng, đơn vị đó phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh. Cũng như việc các ngân hàng phát hành phải thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán cũng cần tiến hành đánh giá lựa chọn đơn vị chấp nhận thẻ trước khi ký hợp đồng.
Chỉ có những đơn vị có hiệu quả kinh doanh cao, có khả năng thu hút được nhiều giao dịch thanh toán thẻ thì ngân hàng mới có thể thu hồi được vốn đầu tư và có lợi nhuận từ những đơn vị đó. Tổ chức thẻ quốc tế Tổ chức thẻ quốc tế đóng vai trò trung tâm xử lý, có chức năng cấp phép và thông tin giao dịch của các ngân hàng thành viên trên toàn thế giới, và là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Một số tổ chức có mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng về thương hiệu, đa dạng về sản phẩm như: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB, công ty thẻ Diners Club, công ty Mondex…. Tổ chức thẻ quốc tế không thực hiện việc phát hành thẻ và không có mối quan hệ trực tiếp với chủ thẻ cũng như đơn vị chấp nhận thẻ, mà đóng vai trò cầu nối phục vụ quy trình thanh toán giữa các ngân hàng thành viên, thông qua việc cung cấp mạng lưới viễn thông trên phạm vi toàn cầu.
Tuy không phát hành thẻ, nhưng các tổ chức thẻ quốc tế đều có tên trên sản phẩm do ngân hàng thành viên của mình cung cấp. Mỗi tổ chức thẻ quốc 10 tế đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ riêng, bắt buộc sự tuân thủ của các tổ chức tham gia. Vai trò của dịch vụ thẻ trong việc phát triển kinh tế xã hội 1. Đối với ngân hàng Trước hết, dịch vụ thẻ góp phần tăng lợi nhuận ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh thẻ mang lại nhiều nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí và lãi. Các khoản thu có thể kể đến như: thu phí phát hành, phí thường niên, phí giao dịch, phí chuyển đổi ngoại tệ từ tổ chức thẻ quốc tế, phí rút tiền mặt, phí thanh toán và lãi cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh toán… Đồng thời, dịch vụ thẻ ra đời góp phần đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng. Đây là phương thức thanh toán phổ biến và rất được ưa chuộng, do đó, qua việc cung cấp tốt dịch vụ thẻ, ngân hàng sẽ tạo được ấn tượng tốt trong mắt khách hàng, cũng như khẳng định uy tín và nâng cao vị thế của mình. Từ đó, ngân hàng sẽ có thêm cơ hội tiếp xúc và giới thiệu đến khách hàng những sản phẩm dịch vụ mới khác.
Như vậy, bản thân dịch vụ thẻ không những đã tạo thêm sự đa dạng trong danh mục sản phẩm cung ứng đến khách hàng, mà còn giúp thúc đẩy các nghiệp vụ khác phát triển. Ngoài ra, dịch vụ thẻ phát triển, đặc biệt là thẻ ghi nợ sẽ giúp cho ngân hàng thu hút được khách hàng mở tài khoản, thu hút được dòng tiền gửi vào ngân hàng, gồm: số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ, số lượng tiền ký quỹ duy trì tài khoản, số tiền khách hàng nộp vào thẻ nhưng chưa sử dụng đến. Các tài khoản này sẽ giúp cho ngân hàng có được một nguồn vốn huy động đáng kể với lãi suất thấp, để có thể phục vụ cho các mục đích kinh doanh khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Đối với thẻ tín dụng, một cách gián tiếp, ngân hàng có thể tận dụng được lượng tiền gửi của cả hai đối tượng khách hàng là chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ.
Đồng thời, thẻ tín dụng còn là một cách dễ dàng nhất cho ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng. Việc cung cấp dịch vụ thẻ tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể tiếp cận sâu rộng đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau và tăng thêm thị phần mà không cần phải mở chi nhánh mới. Dịch vụ thẻ còn góp phần vào công cuộc hiện đại hóa, tăng tính cạnh tranh của ngân hàng. Khi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng tăng lên, để tiếp tục tồn tại và phát triển, ngân hàng phải luôn tìm kiếm, phát minh ra những loại thẻ thanh toán mới, phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng.
Điều này bắt buộc ngân hàng phải liên tục đầu tư 11 thêm thiết bị kỹ thuật công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên để có thể cung cấp cho thị trường những sản phẩm tốt nhất. Trước mưu cầu phát triển đó, ngân hàng sẽ luôn trong tư thế tìm cách đổi mới, hoàn thiện mình. Một vai trò khác của dịch vụ thẻ đối với ngân hàng là thúc đẩy quá trình hội nhập, cũng như mở rộng cơ hội hợp tác giữa các ngân hàng. Nghiệp vụ thanh toán thẻ thúc đẩy mối quan hệ liên kết, hợp tác kinh doanh chặt chẽ, bền vững giữa các ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng và các tổ chức kinh doanh.
Bên cạnh đó, khi tham gia thị trường thẻ, ngân hàng sẽ trở thành thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế, tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp cận với quá trình phát triển trên toàn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Đối với chủ thẻ Vai trò đầu tiên của dịch vụ thẻ đối với chủ thẻ phải nhắc đến đó là sự tiện ích trong thanh toán. Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ trong và ngoài nước mà không cần sử dụng tiền mặt. Dịch vụ thẻ đặc biệt hữu ích đối với chủ thẻ khi đi du lịch hay công tác xa, đặc biệt là khi đi nước ngoài.
Chủ thẻ không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, mà vẫn có thể đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của mình. Thẻ còn có thể được dùng để rút tiền mặt tại bất cứ đơn vị chấp nhận thẻ trên toàn thế giới, vào bất kỳ lúc nào. Ngoài ra, việc sử dụng thẻ sẽ an toàn hơn nhiều so với các hình thức thanh toán khác như tiền mặt, séc… Khi thẻ bị mất không có nghĩa là tiền sẽ mất, vì người không phải chủ thẻ khó sử dụng được vì thẻ đã được bảo mật bằng mã số PIN và chữ ký của chủ thẻ ở mặt phía sau thẻ. Trong trường hợp mất thẻ, chủ thẻ chỉ cần thông báo đến ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng đại lý để khóa thẻ và có thể được cấp lại thẻ khác.
Hơn nữa, trong quá trình sử dụng thẻ để mua hàng, nếu hàng đã mua không đủ tiêu chuẩn chất lượng thì chủ thẻ có thể yêu cầu được ngân hàng phát hành bảo vệ, thậm chí có thể được bồi thường. Một tiện ích khác của thẻ tín dụng là chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng. Khi đến hạn thanh toán, chủ thẻ chỉ cần thanh toán số tiền tối thiểu, số nợ còn lại chủ thẻ có thể trả sau và chỉ phải chịu lãi theo mức lãi suất cho vay tiêu dùng. Như vậy, thẻ tín dụng là một dạng cho vay thanh toán, ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho các giao dịch của khách 12 hàng, cho phép khách hàng mở rộng khả năng tài chính khi chi tiêu.