CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3. Khái niệm thanh toán quốc tế Quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, du lịch. Trong các mối quan hệ nêu trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác bởi lẽ quá trình tiến hành các hoạt động này tất yếu nảy sinh những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau. Một nghiệp vụ có thể đáp ứng cho các công tác trên chính là “Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ nảy sinh từ các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua hệ thống các ngân hàng có liên quan. Thanh toán quốc tế trở thành một khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện buôn bán – trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa các nước. Nó phản ánh sự vận động có tính quy luật của giá trị trong quá trình chu chuyển hàng hóa tiền tệ giữa các quốc gia và được xem là khâu cuối cùng trong một giao dịch kinh tế. Chính vì vậy, thanh toán quốc tế đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế đối ngoại, đặc biệt là lĩnh vực ngoại thương.
Do đó, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thanh toán quốc tế trong lĩnh vực ngoại thương. Thanh toán quốc tế mang nét đặc thù riêng, nó liên quan đến nhiều quốc gia với nhiều đồng tiền thanh toán khác nhau và đây cũng là hoạt động thanh toán thường không dùng tiền mặt. Việc thanh toán giữa các nước đều phải tiến hành thông qua các tổ chức tài chính trung gian mà chủ yếu là các Ngân hàng với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Vai trò của thanh toán quốc tế 3.
Đối với nền kinh tế - Là chiếc cầu nối giữa các quốc gia có quan hệ kinh tế đối ngoại, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại. Chính vì thế, việc tổ chức thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn, chính xác, sẽ làm cho các nhà xuất khẩu đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hóa, qua đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. - Góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn góp phần phát triển kinh tế. - Làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam.
- Là yếu tố bôi trơn, thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp cũng như mở rộng các hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế. - Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu - Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí, tăng uy tín với khách hàng nước ngoài. Hơn nữa, nếu các doanh nghiệp không đủ khả năng tài chính thì ngân hàng có thể thực hiện tài trợ, chiết khấu hoặc cho vay.
Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp từ đó có thể có những tư vấn và điều chỉnh chiến lược kịp thời cho doanh nghiệp. -3- - Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của của các bên cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng thanh toán của người mua, cũng như nguy cơ lừa đảo ngày càng nhiều làm gia tăng rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương. Tuy nhiên, do hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua ngân hàng, các ngân hàng với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, với bề dày kinh nghiệm cũng như uy tín của mình trên trường quốc tế sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chế đươc các rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Đối với ngân hàng - Tạo ra một khoản lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng thông qua phí chuyển tiền, phí mở L/C, phí thanh toán L/C.Thực tế cho thấy, đối với các ngân hàng hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng ngày một tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng.
Đây cũng chính là mục tiêu mà các ngân hàng luôn vươn tới. - Giúp các ngân hàng thu hút thêm một lượng khách hàng mới là những tổ chức, cá nhân có nhu cầu giao dịch thanh toán quốc tế. - Thúc đẩy và hổ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại hối, tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng, bảo lãnh thanh toán, tăng cường nguồn vốn huy động đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ. Đồng thời, hoạt động thanh toán quốc tế còn gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động này, giúp ngân hàng đáp ứng đầy đủ và đa dạng hơn các nhu cầu của khách hàng.
- Nâng cao tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ phát sinh một cách thường xuyên và ổn định. Vì vậy, trong thời gian chờ thanh toán, ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm chí còn có thể sử dụng để đầu tư ngắn hạn. -4- - Giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan đến thanh toán quốc tế. Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng.
Điều này không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh cho ngân hàng theo cơ chế thị trường. - Tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, gớp phần mở rộng quy mô và mạng lưới. - Giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quôc tế.
Vai trò của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế Công tác thanh toán nội địa đã khó khăn, phức tạp, thanh toán quốc tế càng khó khăn, phức tạp hơn nhiều do các yếu tố nước ngoài mang lại. Trong mối quan hệ này, mỗi bên tham gia ngoài việc chấp hành luật pháp trong nước còn phải tuân thủ các hiệp định, hiệp ước cũng như các tập quán thương mại khác. Hơn nữa, trong mua bán, quyền lợi của các bên tham gia thường mâu thuẫn với nhau, bên nào cũng muốn dành về mình phần thuận lợi hơn. Để giải quyết mâu thuẫn này cần có sự tham gia của ngân hàng, lúc này ngân hàng đóng vai trò trung gian, tạo sự tin tưởng, tạo thuận lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.
Các phương thức thanh toán quốc tế Phương thức thanh toán quốc tế là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của nhà nhập khẩu chuyển vào tài khoản của nhà xuất khẩu căn cứ vào các điều kiện, điều khoản trong hợp đồng ngoại thương và các chứng từ thương mại do hai bên cung cấp. Phương thức thanh toán chuyển tiền – Remittance Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó, người trả tiền yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định tại quốc gia khác trong một thời gian nhất định. Các bên tham gia: - Người chuyển tiền (Remitter): Người yêu cầu ngân hàng thay mặt mình thực hiện chuyển tiền cho bên nước ngoài, bao gồm các đối tượng: nhà nhập khẩu, nhà đầu tư, người mắc nợ, kiều bào, người chuyển kinh phí, học phí ra nước ngoài. - Người thụ hưởng (Beneficiary): người nhận đươc số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng, bao gồm: nhà xuất khẩu, người tiếp nhận vốn đầu tư, người đươc người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng đại lý (Remitting Bank): ngân hàng phục vụ người chuyển tiền. - Ngân hàng trả tiền (Paying Bank): là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng, thường là ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh ngân hàng chuyển tiền ở nước người thụ hưởng. Quy trình nghiệp vụ: (3) Ngân hàng trả tiền Ngân hàng đại lý (Paying Bank) (Remitting Bank) (4) (2) Người thụ hưởng Người chuyển tiền (Beneficiary) (1) (Remitter) Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán T/T Chú thích: (1). Ký kết hợp đồng ngoại thương thỏa thuận phương thức thanh toán chuyển tiền -6- (2).
Người chuyển tiền yêu cầu ngân hàng nước mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở nước ngoài. Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài nhận tiền chuyển đến, thực hiện trả cho người thụ hưởng. Các loại hình chuyển tiền trong hoạt động mua bán xuất nhập khẩu: - Chuyển tiền trả trước: Việc chuyển tiền được thực hiện trước khi giao hàng.
Ở hình thức này rủi ro thuộc về nhà nhập khẩu. Sau khi chuyển tiền xong, việc giao hàng có theo đúng thời hạn hay không, chất lượng và số lượng hàng có theo đúng thỏa thuận hay không hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của nhà xuất khẩu. - Chuyển tiền trả sau: Việc chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng. Ở hình thức này, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí và khả năng của nhà nhập khẩu.
Do đó, quyền lợi của nhà xuất khẩu không đảm bảo. Đặc điểm: - Thủ tục đơn giản, phí thanh toán không cao. - Đây là hình thức thanh toán trực tiếp, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán để hưởng phí và không bị ràng buộc về tránh nhiệm.