CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả kinh doanh, phản ánh quan điểm của quản lý chiến lược, là một tập hợp con của hiệu quả tổ chức (Venkatraman và Ramanujam, 1986). Như vậy, các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động đến từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy, 1996).
Theo lý thuyết tổ chức và quản trị doanh nghiệp, khái niệm hiệu quả hoạt động được tiếp cận theo hai hướng: theo mục tiêu và theo hệ thống. Thứ nhất là tiếp cận theo mục tiêu. Tùy vào mục tiêu của tổ chức mà hiệu quả hoạt động được hiểu là hiệu quả tài chính hay hiệu quả phi tài chính. Đối với các doanh nghiệp có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo lường bằng các chỉ số tài chính, hay hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng là hiệu quả tài chính.
Hiệu quả tài chính được đo lường bằng hai cách. Cách truyền thống là đo bằng các chỉ tiêu kế toán về lợi nhuận như: lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên doanh thu (ROS),… (Skandalis, 2005). Ngoài ra, ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển mạnh thì hiệu quả tài chính được đo bằng các chỉ số thị trường như: chỉ số giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q (Zeitun & Tian, 2007). Đối với các doanh nghiệp không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết thì hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo bằng các yếu tố phi tài chính như hiệu quả quản lý, hiệu quả xã hội (trường hợp các công ty phi chính phủ, phi lợi nhuận,…).
5 Thứ hai là cách tiếp cận theo hệ thống. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là hiệu quả của toàn bộ hệ thống, được đo lường bằng hiệu quả của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp gộp lại, bao gồm: bộ phận marketing, sale, chăm sóc khách hàng, bộ phận quản lý,… Theo cách tiếp cận này, có nhiều mô hình đã được đề xuất nhằm nhằm đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như: bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton, lăng kính hiệu suất của Kennerly và Neely, ma trận đo lường hiệu suất của Keegan và cộng sự, kim tự tháp SMART của Lynch và Cross,… (Neely, 2008). Tóm lại, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là một khái niệm rộng, ta có thể tóm tắt như sau: Hiệu quả tài chính theo chỉ số kế toán Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính Hiệu quả theo mục tiêu theo chỉ số thị trường Hiệu quả phi tài chính Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả theo hệ thống Hình 1. Tóm tắt các định nghĩa về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Trong luận văn này, với mục tiêu xác định các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán TP.
HCM, học viên chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng là đo lường 6 hiệu quả tài chính, vì đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, đạt được hiệu quả về tài chính, hay đạt được lợi nhuận tối ưu là mục tiêu lớn nhất. Do thị trường chứng khoán Việt Nam còn trong giai đoạn thử nghiệm, nên việc đo lường hiệu quả tài chính theo các chỉ số thị trường không cho kết quả tốt. Vì vậy, học viên chọn phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo các chỉ số kế toán về lợi nhuận như: ROA, ROE, ROS. ROA chứng minh khả năng sử dụng tài sản của một công ty, ROE thể hiện nhà đầu tư kiếm được gì từ khoản đầu tư của mình, ROS cho thấy một công ty có được bao nhiêu lợi nhuận từ doanh số bán được.
Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả khi tối ưu hóa các chỉ số này. Một số nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Nghiên cứu của Skandalis và Liargovas Skandalis và Liargovas thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: trường hợp của Hy Lạp” vào năm 2005. Trong nghiên cứu này, hai ông đã khảo sát 102 công ty thuộc 15 ngành công nghiệp trên sàn chứng khoán Athens.
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo bằng ROA, ROE, ROS. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được chia làm hai loại: các yếu tố tài chính và các yếu tố phi tài chính. Các yếu tố tài chính gồm: - Cơ cấu vốn (Leverage): được đo bằng tỉ lệ tổng nợ trên tổng tài sản. Cơ cấu vốn tác động dương hoặc âm đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
- Tính thanh khoản (Liquidity): được đo bằng tỉ lệ tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn. Tính thanh khoản tác động âm hoặc dương đến hiệu quả hoạt động. 7 - Tỉ lệ vốn (Capitalization): được đo bằng tỉ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản. Tỉ lệ vốn tác động âm đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp - Đầu tư ròng (Net_investment): được đo bằng tỉ lệ đầu tư ròng trên tổng tài sản.
Đầu tư ròng được tính bằng cách lấy đầu tư cho tài sản cố định mới trừ cho tài sản đã thanh lý. Đầu tư ròng tác động dương đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố phi tài chính gồm: - Quy mô của doanh nghiệp (Size): được đo bằng số lượng nhân viên trong công ty. Quy mô có tác động âm hoặc dương đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
- Tuổi của doanh nghiệp (Age): được đo bằng số năm thành lập công ty. Tuổi doanh nghiệp có tác động âm hoặc dương đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. - Vị trí của công ty (Location): là biến giả, nếu doanh nghiệp nằm ở 2 thành phố lớn của Hy Lạp là Athens và Thessalonica thì có giá trị là 1, nếu nằm ngoài thì có giá trị là 0. - Tình hình xuất khẩu (Export): là biến giả, nếu công ty có xuất khẩu thì giá trị là 1, nếu không xuất khẩu thì giá trị là 0.
Ngoài ra, còn một yếu tố gắn kết giữa yếu tố tài chính và phi tài chính là yếu tố quản trị, được đo bằng chỉ số năng lực quản lý (management competence index), với: Lợi nhuận Mc index = Số chuyên gia 8 Mối quan hệ của các yếu tố với hiệu quả hoạt động cụ thể như sau: HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP ROA ROE ROS YẾU TỐ TÀI CHÍNH YẾU TỐ PHI TÀI CHÍNH Cơ cấu Tính thanh Tỷ lệ tài Đầu tư Tuổi DN Quy mô Xuất khẩu Vị trí vốn khoản sản cố định ròng Năng lực quản lý Hình 1.2: Mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động. Mô hình của Skandalis và Liargovas: Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ cấu vốn, hoạt động xuất khẩu, vị trí, kích thước, đầu tư ròng và chỉ số năng lực quản lý có mối tương quan với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Điều này cho thấy các công ty hoạt động hiệu quả của Hy Lạp là các công ty lớn, trẻ, có hoạt động xuất khẩu, có năng lực quản lý cạnh tranh, có tỉ lệ nợ trên vốn tối ưu và đầu tư hợp lý. 9 Cách tiếp cận của ông có thể được sử dụng như một công cụ hữu ích để tìm hiểu thực tế phát sinh khi nhà quản trị xem xét các chiến lược để cải thiện hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Weixu. Weixu thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp” vào năm 2005. Nghiên cứu được thực hiện trên các công ty được niêm yết ở sàn chứng khoán Thượng Hải năm 2001. Biến phụ thuộc, đại diện cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là ROE.
Biến độc lập là cơ cấu vốn (D) Biến kiểm soát là tốc độ tăng trưởng (Growth) và quy mô của doanh nghiệp (Size). Ông xây dựng 3 mô hình : - Mô hình 1 : thể hiện quan hệ tuyến tính giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và các yếu tố tác động. - Mô hình 2 : thể hiện quan hệ phi tuyến bậc 2 giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và cơ cấu vốn. - Mô hình 3 : thể hiện quan hệ phi tuyến bậc 3 giữa hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và cơ cấu vốn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy : 10 - Biến cơ cấu vốn tác động dương đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp khi tỷ lệ nợ thấp và tác động âm đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp khi tỷ lệ nợ cao. - Biến quy mô doanh nghiệp tác động dương đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ở mô hình tuyến tính. - Biến tốc độ tăng trưởng không có tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Nghiên cứu của Safarova Safarova thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố xác định hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New Zealand” vào năm 2008.
Nghiên cứu này được thực hiện trên 76 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New Zealand. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp được đo bằng hiệu quả mở (Operating performance) gồm : lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận kinh tế (EP) và chỉ số Tobin’s Q (Q). Trong đó, chỉ số EP được đo bằng lợi nhuận giữ lại, chỉ số Q được đo bằng giá trị thị trường chia cho giá trị sổ sách của doanh nghiệp. Có 8 yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể là : - Tốc độ tăng trưởng (G) : được đo bằng logarith của doanh thu.
- Chi phí quảng cáo, marketing, R&D (E) : được đo bằng tài sản cố định vô hình. - Cơ cấu nợ (L) : đo bằng tỉ lệ nợ trên tổng tài sản. - Rủi ro của doanh nghiệp (R) : được đo bằng chỉ số . - Quy mô doanh nghiệp (S) : được đo bằng khối lượng vốn hóa thị trường.
11 - Năng lực quản trị doanh nghiệp (CG) : được đo bằng số lượng thành viên độc lập trong hội đồng quản trị, với định nghĩa về thành viên hội đồng quản trị độc lập là : “người không phải là nhân viên của tổ chức, không đại diện cho những cổ đông lớn và không có mối quan hệ mà có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc phán đoán và ra quyết định của ban giám đốc” (Theo Ủy ban chứng khoán New Zealand). - Tỷ lệ tài sản cố định (T) : được đo bằng tỉ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản.