Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương II: Tổng quan về thanh khoản và những nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản. Chương III: Dữ liệu nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu. Chương V: Kết luận và hạn chế của bài nghiên cứu.
4 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 2.1 Tổng quan về khả năng thanh khoản 2.1 Khái niệm thanh khoản Theo Governor Kevin Warsh (2007) khái niệm thanh khoản truyền thống liên quan đến giao dịch: Thanh khoản của tài sản được xác định bởi khả năng chuyển đổi thành tài sản khác mà không bị mất giá trị. Một số tài sản, chẳng hạn như “tiền” được sử dụng để trao đổi hàng hóa và dịch vụ mà không làm giảm giá trị, và do đó có tính thanh khoản cao. “Tính thanh khoản" theo nghĩa "thanh khoản giao dịch" phản ánh khả năng giao dịch nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến giá cả. Thanh khoản đạt được tối ưu khi vô số người mua và người bán sẵn sàng và sẵn sàng giao dịch.
Giao dịch được tăng cường bởi các nhà làm thị trường và các nhà đầu cơ. Theo Ủy ban Basel, "mục tiêu của tỷ lệ bảo hiểm thanh khoản ( LRC) là thúc đẩy khả năng phục hồi ngắn hạn của hồ sơ rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Điều này đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ lượng tài sản thanh khoản cao không bị cản trở" Theo Governor Jeremy C. Stein (2013) tài sản có khả năng thanh khoản cao (HQLA) có thể được chuyển đổi dễ dàng và ngay lập tức trong thị trường tư nhân thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ trong một khoản thời gian là 30 ngày.2 Phân loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro Phân loại rủi ro Rủi ro thanh khoản là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm C Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN.
Cụ thể như sau: 5 – Rủi ro thanh khoản là rủi ro do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó. – Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý). Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược; – Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. – Rủi ro chiến lược là rủi ro do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hoặc không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.3 Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản Tỷ lệ dự trữ thanh khoản được xác định theo công thức sau: Tài sản có tính thanh Khoản cao Tỷ lệ dự trữ thanh = x 100 khoản (%) Tổng Nợ phải trả Trong đó: – Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản; 6 – Tổng Nợ phải trả là Khoản Mục Tổng Nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán trừ đi các Khoản vay Ngân hàng Nhà nước (bao gồm bán có kỳ hạn giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở; chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng) và Khoản vay các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày được xác định theo công thức sau: Tài sản có tính thanh Khoản cao Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày = x 100 Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp (%) theo Trong đó: – Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản; – Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo là chênh lệch giữa dòng tiền ra của 30 ngày liên tiếp kể từ ngày hôm sau và dòng tiền vào của 30 ngày liên tiếp kể từ ngày hôm sau được quy định Thông tư này. Do lường bằng cung cầu thanh khoản + Cung về thanh khoản Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: – Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1) – Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2) – Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3) – Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4) 7 – Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5) + Cầu về thanh khoản Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản: – Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1) – Đề nghị vay vốn của khách hàng (D2) – Thanh toán các khoản phải trả khác (D3) – Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4) – Thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5) 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản 2.1 Các nghiên cứu quốc tế về khả năng thanh khoản Theo Aikaeli (2006) cho biết các yếu tố quyết định dư thừa thanh khoản ngân hàng. Tác giả lưu ý rằng rủi ro tín dụng, mức độ tài trợ thích hợp, ưu tiên tiền mặt, sự biến động của tiền gửi là yếu tố quyết định cơ bản của thanh khoản dư thừa. Những phát hiện cho thấy rằng chi phí cao của các quỹ, rủi ro tín dụng, biến động của tiền mặt của chủ sở hữu tiền gửi, và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến thanh khoản dư thừa trong các ngân hàng thương mại ở Tanzania.
Các kết quả và kết luận thực nghiệm chính có ý nghĩa chính sách quan trọng đối với sự ổn định giá cả, giảm thiểu rủi ro, giám sát thích hợp và quản lý thanh khoản tối ưu của các ngân hàng thương mại. Vodova (2011) cho thấy rằng các biến số kinh tế vĩ mô và ngân hàng cụ thể xác định đáng kể thanh khoản của ngân hàng. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng đã bắt đầu kiểm tra các vấn đề thanh khoản và tầm quan trọng của nó đối với hiệu suất tổng thể của ngành ngân hàng và thị trường tài chính. Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa tính thanh khoản của ngân hàng và độ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu và lãi suất cho vay và giao dịch liên ngân hàng.
Nghiên cứu đã tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực của tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh doanh và khủng hoảng tài 8 chính đối với thanh khoản. Theo những phát hiện của chúng tôi, mối quan hệ không rõ ràng giữa quy mô ngân hàng và thanh khoản của ngân hàng. Theo Rauch và cộng sự (2010) bài nghiên cứu đo lường khả năng thanh khoản của các ngân hàng tại Đức trong giai đoạn 1997-2006. Tác giả thấy rằng quy mô của ngân hàng, lợi nhuận và lãi suất của chính sách tiền tệ có liên quan ngược chiều với thanh khoản của ngân hàng, trong khi giá trị thanh khoản chậm có liên quan cùng chiều với thanh khoản ngân hàng.
Bài nghiên cứu phân biệt giữa hai nhóm yếu tố quyết định thanh khoản tiềm năng khác nhau: các yếu tố kinh tế vĩ mô, như chính sách tiền tệ hoặc các chỉ số sức mạnh kinh tế, cũng như các yếu tố đặc trưng của ngân hàng, chẳng hạn như quy mô hoặc ngành nghề kinh doanh. Ngoài ra, chúng tôi cũng tính đến những phát triển pháp lý gần đây nhất trong lĩnh vực ngân hàng Đức bằng cách đo lường tác động của việc xóa bỏ các khoản bảo lãnh của nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng công. Có thể thấy rằng việc tạo ra thanh khoản dường như phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thắt chặt tiền tệ: việc thắt chặt chính sách tiền tệ làm giảm thanh khoản được tạo ra. Bài nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ yếu tố cụ thể của ngân hàng, chẳng hạn như hiệu suất tài chính hoặc quy mô, để có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc tạo ra thanh khoản.
Mặt khác, Saxegaard (2006) đã nghiên cứu mô hình thanh khoản dư thừa ở các quốc gia châu Phi của sub-sahrienne sử dụng SVAR (cấu trúc của VaR), kết quả này cho thấy thanh khoản dư thừa thay đổi chính sách tiền tệ truyền dẫn để cơ quan tiền tệ không thể kiểm soát nhu cầu về tiền tệ. Choon et al. (2013) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định tính thanh khoản của 15 ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2012. Tác giả sử dụng các yếu tố cụ thể (quy mô ngân hàng, độ an toàn vốn, lợi nhuận, tín dụng), các yếu tố kinh tế vĩ mô (GDP, lãi suất liên ngân hàng, khủng hoảng tài chính).
Tác giả sử dụng dữ liệu (mô hình bảng cố định với dữ liệu hàng năm). Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng tất cả các yếu tố bao gồm đều có ý nghĩa ngoại trừ lãi suất liên ngân hàng. Nghiên cứu này kết luận các kết quả dựa trên dữ liệu bảng điều khiển, mô hình hiệu ứng cố định sử dụng dữ liệu hàng năm. Các phát hiện thực 9 nghiệm nói rằng tất cả các yếu tố bao gồm là đáng kể ngoại trừ lãi suất liên ngân hàng.
Các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến thanh khoản của ngân hàng là các khoản vay, lợi nhuận và tổng sản phẩm quốc nội. Mặt khác, các yếu tố mang lại tác động nghịch chiều đối với thanh khoản của ngân hàng là quy mô ngân hàng, khủng hoảng tài chính và lsuất liên ngân hàng nhưng lại không đáng kể. Hovarth et al. (2012) đã nghiên cứu một mẫu ngân hàng Séc từ năm 2000 đến năm 2010.
Họ quan sát thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa việc tạo ra thanh khoản và vốn ngân hàng. Điều này cho thấy Basel III làm giảm khả năng thanh khoản, nhưng việc tạo ra tính thanh khoản cao có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.