Mở đầu cho các nghiên cứu quan trọng và có ý nghĩa về cấu trúc vốn hiện đại của doanh nghiệp là bài viết của Modigliani và Miller vào năm 1958 (gọi tắt là học thuyết MM). Sau MM, nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển và bổ sung thêm các học thuyết về cấu trúc vốn khác cũng không kém phần quan trọng như: thuế cá nhân (Miller, 1977), chi phí phá sản (Stiglitz, 1972; Titman, 1984), chi phí đại diện (Jensen và Meckling, 1976; Myers, 1977), và thông tin bất cân xứng (Myers, 1984). Hai giả thuyết chính thống trị các cuộc tranh luận hiện nay về cơ cấu vốn là lý thuyết đánh đổi (TOT) và lý thuyết trật tự phân hạng (POT). Và cho đến nay vẫn chưa có một lý thuyết chung nào cho quyết định cấu trúc vốn.
Việc áp dụng và nghiên cứu thực nghiệm các lý thuyết này vào mỗi quốc gia, nhóm quốc gia, cho mỗi ngành…cũng chưa có đồng nhất. Trong giới hạn bài nghiên cứu, tác giả chỉ nêu tóm tắt các kết luận đã đúc kết được của một số nghiên cứu quan trọng. Trong bài viết gần đây, De Jong và các cộng sự (2008) phân tích sự quan trọng của các nhân tố đặc thù công ty và các nhân tố đặc thù quốc gia trong việc lựa chọn đòn bẩy tài chính của các công ty ở 42 quốc gia. Họ đã thấy rằng các nhân tố đặc thù công ty khác nhau giữa các quốc gia trong khi các nghiên cứu trước đó thì cho rằng các nhân tố đó có sự ảnh hưởng như nhau.
Các nhà 5 nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố đặc thù quốc gia trực tiếp như nguồn vốn, quy tắc pháp luật, sự phát triển của thị trường chứng khoán, sự phát triển của thị trường trái phiếu… Họ đã tìm ra mối quan hệ đồng biến giữa tài sản hữu hình, khả năng thanh toán với đòn bẩy tài chính; mối quan hệ nghịch biến nhưng không có ý nghĩa về mặt thống kê giữa đòn bẩy tài chính với quy mô công ty, khả năng sinh lời, thuế và rủi ro kinh doanh. Irina và Maria (2008) nghiên cứu tập trung vào quyết định cấu trúc vốn ở các nước nhóm BRIC (Brazil, Russia, India, China). Tác giả đã áp dụng mô hình nghiên cứu đa biến đối với một tập hợp các công ty phi tài chính lớn từ Nga, Brazil và Trung Quốc. Họ đã tìm ra rằng, giống như các nghiên cứu trước đó, tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn khác nhau trong phạm vi các quốc gia theo mẫu.
Kết quả lúc so sánh các công ty quy mô lớn của Nga với các công ty của Brazil thì có sự tác động ngược nhau giữa hai quốc gia về sự ảnh hưởng của nhân tố tài sản hữu hình và nhân tố quy mô công ty. Cùng lúc đó, họ cũng tìm ra những ảnh hưởng giống nhau của các nhân tố giữa các công ty Trung Quốc và các công ty Brazil. Đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển, nghiên cứu của Pandey (2001) cho kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ở Malaysia giai đoạn 1984-1999 như sau: khả năng sinh lợi, quy mô, cơ hội tăng trưởng, rủi ro kinh doanh, tài sản hữu hình có ý nghĩa thống kê đối với tất cả loại hình của nợ (tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn, tỷ lệ tổng nợ, tỷ lệ nợ tính theo giá trị sổ sách và tính theo giá trị thị trường); biến cơ hội đầu tư (tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách) không có ý nghĩa thống kê với chính sách nợ. Trong khi đó, ở các nền kinh tế mới nổi, điển hình là Ấn Độ, Bhaduri (2002) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ở các doanh nghiệp Ấn Độ bằng cách xây dựng mô hình kinh tế giải thích khả năng tác động của chi phí tái cấu trúc nguồn vốn trong việc tạo được một cấu trúc vốn tối ưu.
Họ cũng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm để chỉ ra rằng các nhân tố như 6 tăng trưởng, dòng tiền, quy mô và đặc trưng sản phẩm/ngành tác động đến sự lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu. Phát hiện chính của bài nghiên cứu này là việc lựa chọn cấu trúc vốn ở Ấn Độ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như tăng trưởng, dòng tiền, quy mô và đặc trưng sản phẩm, đặc trưng ngành. Kết quả cũng xác nhận sự tồn tại của chí phí tái cấu trúc vốn trong việc tạo ra cấu trúc vốn tối ưu. Mô hình cho thấy một chênh lệch về chi phí tái cấu trúc vốn giữa việc vay mượn dài hạn và ngắn hạn.
Bhaduri thiết lập một mô hình chuẩn cho các nhà nghiên cứu khác sử dụng trong việc xác định các nhân tố của cấu trúc vốn. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu của Bhaduri bao gồm 363 công ty được lựa chọn từ các ngành công nghiệp nặng trong thời kỳ 1990-1995 và cơ sở dữ liệu được lấy từ Trung tâm điều hành kinh tế Ấn Độ. Bhaduri đề cập đến giới hạn chính của bài nghiên cứu liên quan đến việc kết hợp chặt chẽ nhiều biến hơn nhằm tăng khả năng giải thích của mô hình là rất cần thiết. Tuy nhiên, dữ liệu trong nghiên cứu của Bhaduri không cho phép giới thiệu nhiều biến trong mô hình này.
Một nghiên cứu khác cũng ở Ấn Độ do Joy Pathak thực hiện năm 2010 đã tìm ra các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn: tài sản hữu hình, tăng trưởng, quy mô công ty (có quan hệ đồng biến với đòn bẩy tài chính), rủi ro kinh doanh, khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời (có quan hệ nghịch biến với đòn bẩy tài chính). Kết thúc bài viết tác giả đề xuất về việc đưa thêm các nhân tố như tính độc đáo của sản phẩm, giá trị tài sản thế chấp, tỷ lệ khấu hao,…để phát triển mô hình mạnh hơn cho việc nghiên cứu nhân tố của cấu trúc vốn ở các nền kinh tế mới nổi. Nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc vốn tại Việt Nam: Trong bài nghiên cứu “ Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ: trường hợp của Việt Nam”, tác giả Trần Đình Khôi Nguyên và Neelakantan Ramachandran năm 2006 đã đề cập đến các biến định lượng và kể cả biến định tính có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, đó là: 7 Tăng trưởng, tài sản hữu hình, khả năng sinh lợi, quy mô, rủi ro kinh doanh, quyền sở hữu công ty, mối quan hệ với Ngân hàng, khả năng liên kết. Kết quả việc nghiên cứu cho thấy rằng: - Các công ty thuộc sở hữu của nhà nước có tỷ lệ nợ cao hơn các công ty tư nhân.
- Quy mô công ty và mức độ rủi ro kinh doanh có mối quan hệ đồng biến với cấu trúc vốn; biến khả năng sinh lợi không có ý nghĩa với mô hình; tài sản hữu hình có quan hệ nghịch biến với tổng nợ và tỷ lệ các khoản phải trả ngắn hạn nhưng ảnh hưởng của nó không đủ mạnh mẽ để chỉ ra rằng vấn đề chi phí đại diện và lý thuyết kiệt quệ tài chính có thể giải thích sự liên quan giữa tài sản hữu hình và các tỷ lệ nợ. - Các nhân tố về hành vi quản lý lại có tác động mạnh mẽ đến cấu trúc vốn công ty, đó là công ty có mối quan hệ tốt với Ngân hàng có khả năng vay được các khoản nợ lớn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình; và khả năng liên kết tốt giúp các công ty có cơ hội để đạt được các khoản tín dụng thương mại và các nguồn tài chính khác. Năm 2010, sau khi nghiên cứu lý thuyết kết hợp thực nghiệm chạy mô hình hồi quy đòn bẩy tài chính của 177 công ty từ năm 2005-2008, tác giả Lê Ngọc Trâm đã đưa ra kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam: có 8 nhân tố tác động đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp(có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%) là các biến tấm chắn thuế phi nợ, khả năng thanh khoản, tỷ suất sinh lợi, quy mô công ty, tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước, tài sản hữu hình, thuế và đặc điểm riêng sản phẩm. Biến tăng trưởng và rủi ro kinh doanh không gây tác động đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính (thống kê t lớn hơn 5%).
Gần đây nhất là nghiêm cứu của tác giả Nguyễn Chí Đức (2011) với cơ sở dữ liệu của 546 công ty phi tài chính niêm yết niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ 8 năm 2007 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty tại Việt Nam sử dụng nợ cao so với các công ty trên thế giới. Đặc biệt, các công ty sử dụng nợ ngắn hạn là chủ yếu. Các công ty nhà nước có mức sử dụng nợ cao hơn các công ty khác, các công ty lớn có mức sử dụng nợ cao hơn các công ty vừa và nhỏ.
Kết quả chính của đề tài là phát hiện các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty tại Việt Nam giống với các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty trên thế giới. Cụ thể, các nhân tố: khả năng sinh lời, tính thanh khoản, ngành nông nghiệp, ngành vận tải có quan hệ tỷ lệ nghịch với đòn bẩy tài chính của công ty, các nhân tố: qui mô công ty, cơ hội tăng trưởng, tài sản hữu hình, rủi ro kinh doanh, đặc điểm riêng của tài sản, sở hữu nhà nước, ngành bất động sản – xây dựng có quan hệ tỷ lệ thuận với đòn bẩy tài chính của công ty. Còn rất nhiều nghiên cứu khác về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam, hầu hết đều đưa vào mô hình các biến chủ yếu sau: khả năng thanh khoản, tỷ suất sinh lợi, quy mô công ty, tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước, tài sản hữu hình, thuế, đặc điểm riêng sản phẩm, trưởng, rủi ro kinh doanh,đặc điểm ngành và các biến này cũng được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên hạn chế của phần lớn các nghiên cứu của Việt Nam là nguồn dữ liệu có độ chính xác chưa cao, thường được căn cứ vào giá trị sổ sách.
Các hạn chế này cho đến nay vẫn chưa thể khắc phục được. 9 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 2. Dữ liệu Dữ liệu sử dụng để phân tích là báo cáo tài chính từ năm 2008 đến năm 2011 của 652 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao Dịch Chứng khoán Hà Nội tính đến thời điểm 31/07/2012.