Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÔNG TRÌNH CÓ TÍNH ĐẾN YẾU TỐ BẤT ĐỊNH 1. Tiến độ thi công và sự cần thiết xác định tiến độ thi công Hoạt động thi công xây lắp công trình luôn tồn tại cùng sự phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Hoạt động này là một trong những yếu tố cơ bản hình thành chỉ tiêu đầu tư phát triển trong báo cáo thường niên về phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, khu vực. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư và các chủ thể khác luôn quan tâm đến hiệu quả đầu tư, vì vậy phải nghiên cứu một trong ba 1 yếu tố quyết định đến hiệu quả đầu tư của công trình đó là tiến độ thi công công trình (sau đây gọi tắt là tiến độ thi công (TĐTC)).
Mặt khác, đối với các nhà thầu lại luôn mong muốn tối đa hóa lợi nhuận qua việc tổ chức thi công phù hợp, nhằm giảm thời gian thi công để giảm bớt hao phí, nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình theo tiêu chuẩn quy định.Tiến độ thi công là gì Từ điển: “Contruction Dictionary” [26] có định nghĩa về TĐTC như sau: “Tiến độ thi công xây dựng là tiến trình được giám sát và thông báo theo phần trăm khối lượng hoàn thành. Công việc thực tế hoàn thành được đo theo đơn vị đo khối lượng ứng với mỗi khoản chi phí vật liệu hoặc khối lượng, được báo cáo định kỳ theo từng hạng mục hay toàn bộ dự án”. 1 Hai yếu tố còn lại là chất lượng và chi phí 23 1. Sự cần thiết xác định tiến độ thi công Có thể nói, dường như mỗi quyết định ở tầng vĩ mô cũng như vi mô về đầu tư của nhà nước, địa phương đều ít nhiều liên quan đến XDCB tức là liên quan đến tiến độ thi công.
Việc đề ra các giải pháp quản lý tiến độ là việc thường nhật của như các bộ, ngành, chính quyền địa phương, trong mỗi quốc gia và các chủ thể quản lý xây dựng. Sự cần thiết của việc xác định TĐTC xuất phát từ một số đòi hỏi sau: Là thông tin cơ sở cho xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển thời kỳ tiếp theo của kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngắn hạn và dài hạn của một địa phương và cả đất nước. Góp phần khắc phục việc chậm tiến độ so với kế hoạch các công trình XDCB trên khắp cả nước. Là yếu tố đánh giá việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng lực các tổ chức, cá nhân trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc thực hiện quản lý, triển khai các công trình.
Yêu cầu của xác định tiến độ thi công Việc xác định tiến độ cần đặt trên những cơ sở nhất định. Do TĐTC là một quá trình, bao gồm thời gian và các công việc cụ thể thực hiện trong khoảng thời gian đó. Mặt khác, việc thực hiện tiến độ thi công luôn chịu tác động của các yếu tố bất định từ bên trong và bên ngoài. Vì vậy, để có một TĐTC khoa học, sát thực tiễn cần xét đến các yêu cầu sau: - Xác định cụ thể các hoạt động, nhóm hoạt động toàn thể công trình.
- Phân bổ nguồn lực (máy thi công, nhân công) để thực hiện các công đoạn phải được lồng ghép khoa học, đảm bảo hiệu suất cao nhất. - Phân chia cụ thể các công đoạn (bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc) cho toàn công trình, bao gồm các công đoạn thực hiện kế tiếp nhau theo thời gian và các công đoạn có quá trình thi công đan xen nhau. 24 - Xác định biện pháp tổ chức thi công phù hợp. - Xây dựng sơ đồ tổ chức hiện trường, biểu đồ phân bổ nguồn lực theo phương pháp GANTT, PERT, CPM hoặc phương pháp tổng hợp.
- Phân tích, đánh giá và dự báo sự tác động của các yếu tố bất định. Để đảm bảo có được TĐTC đáng tin cậy, phải xem xét một cách toàn diện các yếu tố cấu thành TĐTC. Tuy nhiên giá trị TĐTC chỉ đúng và sát thực tế khi nó được hình thành trên nền tảng tổ chức thi công tối ưu, hệ thống định mức nhà nước phù hợp thực tiễn. Đồng thời, phải có sự thống nhất quan điểm về hiệu quả, phương pháp xác định tiến độ thi công của các chủ thể quản lý.
Nội dung chủ yếu xác định tiến độ thi công Trong thực tế, tiến độ thi công công trình chịu nhiều tác động bất định. Do đó việc xác định tiến độ công trình đòi hỏi phải trải qua một quá trình phân tích, đánh giá và ra quyết định, gọi là quá trình xác định tiến độ. Quá trình này bao gồm một số công đoạn, liên quan chặt chẽ với nhau, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau vừa là kết quả vừa là sự kiểm chứng các hoạt động của giai đoạn trước. Tại mỗi công đoạn cần phải có sự rà soát, phản hồi để đảm bảo kết quả thu được sát thực tiễn và khoa học nhất.
Nội dung xác định tiến độ thi công được tóm lược như sơ đồ sau: 25 Xác định nhiệm vụ • Phương hướng thi công tổng quát • Kế hoạch phân bổ nguồn lực • Phương pháp xác định Phân tích bên trong Phân tích bên ngoài Phản hồi • Công nghệ thi công • Môi trường vĩ mô Phản hồi • Tổ chức thi công và năng • Địa hình thi công, các yếu lực thi công tố bất định có thể tác động Phân tích chuyên sâu Phân tích tổng quát • Sơ đồ bố trí nguồn lực • Các tổ chức, cá nhân liên quan • Sơ đồ tổ chức thi công hiện trường đến việc thực hiện tiến độ • Công nghệ thi công tại các công • Thuận lợi và khó khăn chính đoạn thi công chính • Các hoạt động thay thế Dự báo viễn cảnh Phản hồi Nhận định các yếu tố có thể tác Phản hồi động làm sai lệch tiến độ so với giá trị ban đầu Thiết lập cơ sở xác định tiến độ Phản hồi • Hồ sơ thiết kế, hồ sơ dự thầu Phản hồi • Hồ sơ pháp lý về công trình • Dự báo nhân lực thực hiện, các nhân tố phát sinh mới. • Xác định sơ đồ mạng, sơ đồ ngang Hoàn thiện việc xác định tiến độ Sơ đồ 1. Nội dung xác định tiến độ thi công a) Xác định nhiệm vụ Là việc xác định, lựa chọn phương pháp tính toán tiến độ thi công trên cơ sở nguồn lực phù hợp. Trước hết cần khẳng định kết quả của xác định tiến độ sẽ phục vụ cho nhiệm vụ nào? cho các tổ chức tư vấn thiết kế, chủ đầu tư, nhà thầu thi công, hay chỉ là khoảng thời gian ảo cho việc hợp thức hoá hồ sơ 26 thủ tục khi giao nhận thầu thi công công trình.
Đồng thời cần thấy rằng phương pháp xác định tiến độ phải thỏa mãn mối quan tâm của các bên liên quan, đồng thời phải đảm bảo thời gian đó đủ để thực hiện xong toàn bộ khối lượng công việc theo kế hoạch và cam kết của các bên giao nhận thầu. b) Phân tích bên trong Là quá trình xem xét, quyết định lựa chọn biện pháp tổ chức thi công và công nghệ thi công cụ thể cho công trình cần xem xét. Tiến hành chi tiết hoá các hoạt động và thời gian thực hiện thi công các công đoạn theo phương pháp xác định tiến độ đã chọn, đồng thời phân chia quá trình thi công thành các công đoạn có chung đặc tính kỹ thuật 2, từ đó xây dựng sơ đồ tổ chức hiện trường, chọn hướng thi công và trình tự phân bổ nguồn lực thực hiện. c) Phân tích bên ngoài Là quá trình phân tích, đánh giá sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô tại khu vực hiện trường thực hiện thi công 3, nhằm đưa ra các nhận định về thuận lợi, khó khăn và biện pháp khắc phục trong quá trình thực hiện tiến độ.
Qua đó, xem xét, đánh giá các yếu tố bất định từ bên ngoài có thể tác động đến việc thực hiện tiến độ thi công, như yếu tố địa hình, thời tiết, khí hậu… từ đó tiến hành tính toán và xây dựng giải pháp khắc phục. d) Phân tích tổng quát Là giai đoạn xem xét, đánh giá về các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện thi công công trình, đặc biệt là nhà thầu chính, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà cung cấp, thầu phụ…, bao gồm việc nghiên cứu tác động cụ thể của các chính sách kinh tế, các quy định của pháp luật trực tiếp tác động 2 Phân chia từng phần: như phần móng, phần thân, phần hoàn thiện…. 3 Gồm giá cả vật tư, vật liệu, thay đổi chính sách… 27 đến nhà thầu, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp nguyên vật liệu, nguồn lực thi công, từ đó xây dựng giải pháp thay thế. e) Phân tích chuyên sâu Là quá trình kiểm tra tính đúng đắn của sơ đồ thực hiện tiến độ, năng lực thật sự của nhà thầu, nhận diện những điểm bất hợp lý có khả năng làm tiêu tốn nguồn lực và thời gian thi công.
Mặt khác, tiến hành phân tích về công nghệ thi công, đây là quá trình so sánh tiến bộ công nghệ đang áp dụng với bối cảnh chung của ngành, khu vực và xu hướng của thế giới. Đánh giá thực tế nguồn lực, xem xét lại kinh nghiệm khả năng vận hành các thiết bị mới, hiệu quả sản xuất của nguồn lực hiện có, đặc biệt là các máy móc chuyên dụng, hệ thống dây chuyền công nghệ kỹ thuật cao và nhân sự thực hiện. Đồng thời nghiên cứu thêm các công trình đang thực thi có tính năng kỹ thuật tương đương với công trình đang thực hiện để tích luỹ kinh nghiệm và tiến hành điều chỉnh nếu thấy hiệu quả. f) Dự báo viễn cảnh Giai đoạn này nhằm rà soát, tổng hợp lại các yếu tố bất định có thể tác động làm sai lệch tiến độ thi công so với giá trị ban đầu.
Từ đó, tiến hành dự báo giá trị sai lệch so với tiến độ giao thầu, chỉ rõ nguyên nhân, thời điểm cũng như biện pháp khắc phục. g)Thiết lập cơ sở xác định tiến độ Trên cơ sở các phân tích trên, kết hợp với các dữ liệu trong quá khứ bao gồm hồ sơ pháp lý, các vấn đề khác như: khảo sát thiết kế-dự toán, dự thầu, nguồn lực thực hiện, định mức áp dụng và thông tin dự báo các nhân tố phát sinh, tiến hành tính toán, dự báo tiến độ.