Chương 1. TỔNG QUAN VỀ RADAR XUYÊN ĐẤT Đây là chương giới thiệu tổng quan về Radar xuyên đất, về lịch sử phát triển, cho người đọc có cái nhìn tổng quan về Radar xuyên đất.Ngoài ra, chương này cũng đưa ra sơ đồ tổng quát của một hệ thống Radar, các bộ phận cấu thành hệ thống.Sau đó, tác giả sẽ trình bày sơ lược về kĩ thuật Radar xuyên đất, nguyên tắc hoạt động, ứng dụng, tầm quan trọng, lợi ích của nó trong việc dò tìm các vật chất nằm dưới bề mặt trái đất.1 Lịch sử phát triển Việc sử dụng các tín hiệu điện từ đầu tiên để xác định sự hiện diện của vật bằng kim loại từ xa trên đất liền được Hulsmeyer đưa ra vào năm 1904, nhưng sự mô tả đầu tiên của nó sử dụng cho xác định vị trí của các đồ vật được chôn xuất hiện sáu năm sau đó bởi một sáng chế của Leimbach và Lowy người Đức. Kỹ thuật của họ bao gồm chôn một anten lưỡng cực trong một dãy các lỗ khoan thẳng đứng và so sánh các biên độ của tín hiệu nhận được khi các cặp antenna liên tiếp được sử dụng để truyền và nhận. Bằng cách này, một hình ảnh thô có thể được hình thành trong khu vực bất kỳ trong mảng đó.
Các tác giả này mô tả một kỹ thuật thay thế, mà được sử dụng riêng biệt, bề mặt được gắn ăng ten để phát hiện các phản xạ từ một giao diện dưới bề mặt do nước ngầm hoặc quặng của một quặng sắt. Một phần mở rộng của kỹ thuật này đã dẫn đến một biểu thị độ sâu của một giao diện vật được chôn, thông qua kiểm tra giao thoa giữa các sóng phản xạ và rò rỉ trực tiếp giữa các ăng-ten trên mặt đất.Tính năng chính của việc này, cụ thể là hoạt động sóng liên tục CW (Continuous Wave), sử dụng che chắn hoặc các hiệu ứng nhiễu xạ do các tính năng dưới đất, và sự phụ thuộc vào các biến thể dẫn xuất tạo ra tán xạ, đã được đưa ra trong một số bằng sáng chế khác, bao gồm một số dành cho các ứng dụng ngập nước hoàn toàn trong hầm mỏ. Nghiên cứu của Hiilsenbeck năm 1926 đưa ra đầu tiên sử dụng kỹ thuật xung để xác định cấu trúc các vật được chôn.Ông lưu ý rằng bất kỳ sự thay đổi chất điện môi, không nhất thiết liên quan đến dẫn xuất, cũng sẽ tạo ra sự phản xạ dễ dàng hơn HVTH:Phạm Minh Vương 5 ƯỚC LƯỢNG PHỔ TÍN HIỆU GPR GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN trên các nguồn hướng, có lợi thế hơn các phương pháp địa chấn.
Kỹ thuật xung được phát triển từ những năm 1930 trở đi như một phương tiện thăm dò độ sâu đáng kể trong băng, nước ngọt, quặng muối, cát sa mạc và các vật có hình dạng đá. Thăm dò than đá cũng đã được nghiên cứu bởi Cook, Roe và Ellerbruch, mặc dù độ suy giảm cao hơn trong các tài liệu sau này, có nghĩa là có độ sâu lớn hơn vài mét đã không thực tế. Một phần mở rộng hơn lịch sử của Radar xuyên đất GPR (Ground Penetrating Radar) và sự phát triển của nó cho đến giữa thập niên 1970 được đưa ra bởi Nilsson. Sự quan tâm đổi mới trong các chủ đề được đưa ra trong đầu những năm 1970 khi nghiên cứu mặt trăng và đổ bộ lên mặt trăng đã được tiến hành.
Đối với các ứng dụng này, một trong những lợi thế của GPR hơn kỹ thuật địa chấn đã được khai thác, cụ thể là khả năng sử dụng từ xa, bộ chuyển đổi không tiếp xúc của năng lượng bức xạ, thay vì mặt đất liên hệ với các loại cần thiết cho điều tra địa chấn. Từ những năm 1970 cho đến ngày nay, một loạt các ứng dụng đã được mở rộng đều đặn, bao gồm xây dựng và thử nghiệm cấu trúc không phá hủy, khảo cổ học, đường xá và đánh giá chất lượng đường hầm, vị trí của khoảng trống và các vật chứa, đường ống và phát hiện dây cáp, cũng như viễn thám bằng vệ tinh… Mục đích xây dựng thiết bị cho mỗi các ứng dụng này đang được phát triển và người sử dụng hiện nay có một lựa chọn tốt hơn các thiết bị và kỹ thuật.2 Giới thiệu chung về radar xuyên đất Công Nghệ Radar Xuyên Đất (hay còn gọi là: GPR, Công Nghệ Địa Vật Lý) là phương pháp địa vật lý hiện đại trên cơ sở lý thuyết của trường sóng điện từ để mô tả hình ảnh dưới mặt đất bằng các tín hiệu sóng phản xạ từ kết cấu dưới mặt đất.1: radar xuyên đất HVTH:Phạm Minh Vương 6 ƯỚC LƯỢNG PHỔ TÍN HIỆU GPR GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN RADAR (Dò tìm và Định vị bằng sóng vô tuyến) thường được sử dụng để định vị máy bay, tàu thủy, xe, chim, mưa bão và các đối tượng khác trên mặt đất. Ăng-ten phát của GPR truyền xung sóng điện từ xuống dưới bề mặt đất.
Khi xung sóng điện từ gặp một đối tượng, nó phản xạ trở lại và được ăng-ten thu ghi lại. Phần mềm xử lý dựa trên tần số phát của xung sóng điện từ truyền đi và thời gian trễ giữa xung sóng điện từ truyền đi và nhận tín hiệu phản xạ hình thành thông tin về đối tượng. Độ sâu và độ phân giải có liên quan đến tần số Radar, công suất phát, hằng số điện môi của đất (đất), cũng như hình dạng và đặc tính của đối tượng Các đối tượng như đường ống, dây cáp, công trình ngầm, rễ cây và đất đá sẽ phản xạ theo dạng hình Hyperbol trên màn hình DVL của thiết bị GPR. Hình Hyperbol xuất hiện là khi sóng GPR không xuyên vào lòng đất theo dạng chùm tia bức xạ trông giống như hình nón dưới dạng 3D.
Tín hiệu phản xạ có thể xuất hiện mặc dù những đối tượng không trực tiếp ở ngay dưới thiết bị cảm biến của GPR. Vì vậy, thiết bị cảm biến GPR “phát hiện” đường ống trước và sau khi đi qua đỉnh ống và tạo ra hình Hyperbol trên màn hình DVL của thiết bị GPR.2: Nguyên lý hoạt động của GPR GPR cực kỳ chính xác khi dò tìm các đối tượng bằng kim loại và phi kim loại. Hệ thống GPR hoạt động theo nguyên lý một ăng-ten phát xung sóng điện từ truyền xuống mặt đất. Một bộ xử lý ghi lại cường độ và thời gian tín hiệu phản xạ.
Bất kỳ sự khác biệt nào dưới mặt đất, kim loại hay phi kim loại đều tạo ra những tín hiệu phản xạ. Tất cả các đối tượng dò tìm xuất hiện trên màn hình DVL của GPR trong thời gian thực hiện máy GPR. Trong một vài trường hợp người sử dụng máy GPR có thể cho biết đặc điểm đối tượng dò tìm là kim loại hay phi kim loại từ tín hiệu phản xạ. HVTH:Phạm Minh Vương 7 ƯỚC LƯỢNG PHỔ TÍN HIỆU GPR GVHD: TS.
ĐỖ HỒNG TUẤN Phương pháp khảo sát bằng cách di chuyển máy GPR qua lại và đánh dấu trên mặt đất nơi đỉnh hình Hyperbol thể hiện công trình ngầm được tìm thấy.3: Phổ của tín hiệu GPR thực tế. Phương pháp định vị phổ biến nhất là đi qua lại và đánh dấu khi đi.Phương pháp này hoạt động rất tốt đối với những vùng đất bằng phẳng và được bố trí gọn gàng.Máy được di chuyển (quét) vuông góc với trục đối tượng được dự đoán (xem hình trên).Khi cảm biến GPR đi qua đối tượng, hình Hyperbol hiển thị. Đỉnh của hình Hyperbol là xác định vị trí đối tượng, là căn cứ ước tính độ sâu của đối tượng. Độ sâu công trình ngầm thể hiện trên DVL của GPR phụ thuộc vào vật liệu được khảo sát, môi trường đất và tần số ăng-ten đang sử dụng.
Chẳng hạn, GPR sẽ xuyên qua băng, đá, đất và nhựa đường theo các cách khác nhau do đặc tính điện từ trên mỗi loại khác nhau. Ăng-tem tần số thấp thường sẽ xuyên đất sâu hơn nhưng đô phân giải ảnh thấp hơn. Khả năng phát hiện ra các đối tượng được chôn dưới đất từ lâu đã được quan tâm qua nhiều thế kỷ. Một kỹ thuật mà có thể làm sáng tỏ vật dưới bề mặt đất là một thử thách đáng kể hấp dẫn các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu các kỹ thuật để đề ra phương pháp thăm dò phù hợp.
Có nhiều phương pháp khác nhau dùng để quan sát các vật dưới lớp bề mặt đất như phương pháp địa chấn, điện trở suất, độ phân cực, khảo sát trọng lực, khảo sát từ, phương pháp nucleonic, bức xạ, thermographic và phương pháp điện từ…, mỗi phương pháp có ưu điểm riêng. Phương pháp Radar xuyên đất GPR(Ground Penetrating Radar) dùng để HVTH:Phạm Minh Vương 8 ƯỚC LƯỢNG PHỔ TÍN HIỆU GPR GVHD: TS. ĐỖ HỒNG TUẤN thăm dò lớp dưới bề mặt trái đất là một lựa chọn đặc biệt thu hút đối với các kỹ sư và các nhà khoa học ứng dụng ở điểm nó bao trùm một loạt các chuyên ngành như truyền sóng điện từ, điện suy hao trong truyền thông, công nghệ anten ultra wideband và thiết kế các hệ thống radar, xử lý tín hiệu dạng sóng và xử lý hình ảnh biệt thức. Hầu hết các GPR là một ứng dụng cụ thể của công nghệ radar ultra wideband impulse.
Thuật ngữ “Ground Penetrating Radar (GPR)”, hay “Groud Probing Radar”, hay “sub - surface radar” hoặc “surface-penetrating radar (SPR)” đều đề cập cho một loạt các kỹ thuật điện từ trường được thiết kế chủ yếu cho xác định vị trí của đối tượng hoặc các vật được chôn bên dưới bề mặt của trái đất hoặc nằm trong một cấu trúc nhìn không rõ. Các công nghệ của GPR phần lớn được ứng dụng theo định hướng và thiết kế triết lý tổng thể, cũng như các phần cứng, thường phụ thuộc vào loại mục tiêu và nguyên liệu của các mục tiêu và môi trường xung quanh nó. Phạm vi của các ứng dụng cho phương pháp GPR rộng và sự tinh tế của các kỹ thuật phục hồi tín hiệu, thiết kế phần cứng và hoạt động thực tiễn gày càng nâng cao khi công nghệ ngày càng hoàn thiện.3 Nguyên lý hoạt động Radar xuyên đất - GPR là một phương pháp địa lý ứng dụng các nguyên lý của sóng điện từ ở dải tần số rất cao (1-1000MHz) để nghiên cứu cấu trúc và các đặc tính của vật chất bên dưới lòng đất mà không phải đào bới, phá hủy cấu trúc của nó. Thiết bị Radar xuyên đất sử dụng các sóng vô tuyến tần số cao để thu thập thông tin phản hồi từ dưới lòng đất.
Năng lượng phát ra từ ăngten phát, lan truyền vào trong lòng đất với vận tốc phụ thuộc vào đặc tính điện môi của môi trường, khi gặp vật dị thường sẽ tạo ra các sóng phản xạ và được ăngten thu ghi lại các tín hiệu phản xạ này một cách liên tục, xử lý và tái tạo thành một hình ảnh.