Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về cây Ô đầu 1. Nguồn gốc phân bố của cây Ô đầu Ô đầu (Aconitum fortunei Hemsl), mọc hoang và trồng ở các vùng núi như Hà Giang, Lào Cai (Sa Pa) với những tên địa phương củ gấu tầu, củ ấu tầu. Ô đầu (Aconitum sinensi Paxt) là cây chủ yếu phát triển ở Trung Quốc, tại đây có nhiều loại cây Ô đầu: A.carmichaeli, mang nhiều tên khác nhau: Xuyên ô (mọc ở Tứ Xuyên), Thảo ô (mọc ở Giang Nam).
Tuỳ theo sinh lý của củ, củ Ô đầu cũng có tên gọi khác nhau: + Ô nhuế: Là Ô đầu có hai nhánh ở dưới đế giống như sừng trâu. + Trắc tử: Là vú lớn bên củ phụ tử. + Thiên hùng: Là Ô đầu dưới đất lâu năm không sinh đủ con. + Ở phương Tây, cây Ô đầu được trọng dụng nhất là cây A.napellus L không phân biệt dùng củ mẹ hay củ con, nhưng thu hái ở những thời gian khác nhau, củ mẹ vào cuối Xuân, củ con vào cuối Thu sang Đông.
Phân loại Ô đầu có tên khoa học là (Aconitum fortunei Hemsl) Thuộc: + Giới thực vật 2 lá mầm. + Bộ Mao lương: Ranunculales + Họ Mao lương: Ranunculaceae + Chi: Aconitum + Loài Ô đầu Việt Nam: A. fortunei Cây còn có tên khác: Hắc phụ, Cách tử (Bản Thảo Cương Mục), Củ ấu tầu, Củ gấu tầu. Đặc điểm thực vật học của cây Ô đầu * Thân cây Ô đầu: Thân cây thuộc dạng thân cỏ cao 0,6 - 1m, thân mọc thẳng đứng, có lông ngắn * Lá cây Ô đầu: Lá chia 3 thùy, đường kính 5 – 7cm, hình trứng ngược có răng cưa ở nửa trên.
Lá Ô đầu Sa Pa non có màu xanh đậm, lá Ô đầu Hà Giang và Lạng Sơn khi non có màu xanh nhạt hơn. * Hoa cây Ô đầu: Hoa lớn màu xanh tím, mọc thành chùm dày, dài 6 – 15 cm (có khi dài 25 – 30 cm). Bao hoa gồm 5 bộ phận trong đó có 1 cái hình mũ, 2 - 5 tuyến mật. * Quả cây Ô đầu: Quả có 5 đài mỏng như giấy, dài 2 - 3 cm, hạt có vảy ở trên mặt.
Thành phần hóa học của cây Ô đầu Thành phần hóa học: Thành phần hoá học: Hoạt chất chính của củ Ô đầu là aconitin (chất gây tê đầu lưỡi) và các alcaloid khác. Ngoài ra còn tinh bột, đường, manit, chất nhựa, các acid hữu cơ. + Higenamine, Demethylcoclaurine, Coryneinechloride, Methyldopa hydrochloride. + Isodephinine, Aconitine, Benzoylmesaconine, Neoline, Fuziline, 15a- Hydroxyneoline.
+ Karakoline, Beiwutine, 10-Hydroxymesaconitine. Bộ phận dùng, tác dụng và công dụng của cây Ô đầu 1. Bộ phận dùng: * Rễ củ: Củ cái gọi là Ô đầu, củ con đã chế gọi là Phụ tử. * Mô tả dược liệu: n 6 + Diêm Phụ Tử: Hình dùi tròn, dài khoảng 6,6cm, đường kính 3,3cm.
Đầu củ rộng, chính giữa có vết mầm trở xuống, thân trên béo, đầy, chung quanh có phân chi nổi lên như cái bướu, thường được gọi là ‘Đinh giác’. Bên ngoài mầu đen tro, bao trùm bột muối. Thể nặng, chỗ cắt ngang mầu nâu tro, có những đường gân lệch hoặc giữa ruột có khe hổng nhỏ, trong đó có muối. Không mùi, vị mặn mà tê, cay.
Loại củ lớn, cứng, bên ngoài nổi bậc muối là tốt [9]. + Hắc Phụ Phiến: Những miếng cắt dọc không giống nhau, trên rộng, dưới hẹp, dài 2 - 4cm, rộng 1,6 - 2,6cm, dầy 0,5cm. Ngoài vỏ mầu nâu đen, trong ruột mầu vàng mờ, nửa trong suốt, dầu nhuận sáng bóng, thấy được đường gân chạy dọc. Chất cứng dòn, chỗ vỡ nát giống như chất sừng.
Không mùi, vị nhạt. Lựa thứ đều, bên ngoài có dầu nhuận sáng là tốt [9]. + Bạch Phụ Phiến: giống Hắc Phụ Phiến nhưng toàn bộ đều mầu trắng vàng, nửa trong suốt, miếng mỏng hơn, dài 0,3cm. Không mùi, vị nhạt.
Lựa thứ phiến đều, mầu trắng vàng, dầu nhuận, nửa trong suốt là tốt [9]. Bào chế: + Diêm Phụ Tử: Chọn lấy thứ rễ Phụ tử hơi to, rửa sạch, ngâm trong nước pha muối, hàng này lấy ra phơi dần cho đến khi thấy bên ngaòi Phụ tử có nhiều tinh thể muối và hóa cứng là được. Sau đó giần qua để bỏ bột muối đi là dùng được. + Hắc Phụ Phiến: Chọn thứ Phụ tử cỡ vừa, ngâm trong nước muối mặn vài ngày, lấy nước đó nấu sôi, vớt ra, rửa sạch, cắt thành phiến dầy.
Lại ngâm vào nước muối nhạt và thêm thuốc nhuộm mầu vào làm cho Phụ tử có mầu trà đặc. Lấy nước rửa cho đến khi nếm vào lưỡi không thấy tê cay nữa, lấy ra, đồ chín, sấy cho khô nửa chừng, lại phơi khô là được [9]. + Bạch Phụ Phiến: Chọn loại Phụ tử nhỏ hơn, ngâm trong nước muối mặn vài ngày, lấy nước đó nấu cho đến khi thấu tan ruột, vớt ra, bóc vỏ ngoài, n 7 cắt dọc thành phiến mỏng, rửa cho đến khi nếm lưỡi không thấy tê cay nữa là được. Lấy ra, đồ chín, phơi khô nửa chừng, xông Lưu huỳnh cho khô là được.
+ Đạm Phụ Phiến: Lấy Diêm Phụ Phiến ngâm nước, mỗi ngày thay 2 – 3 lần cho hết muối. Cho vào nồi cùng Cam thảo, Đậu đen nấu với nước cho thấm, đến khi cắt ra, nếm mà lưỡi không thấy cay, tê thì thôi. Lấy ra, bỏ hết Cam thảo, Đậu đen, cạo bỏ vỏ, chẻ làm 2 miếng, cho vào nồi, thêm nước, nấu độ 2 giờ, khi Phụ tử chín thì lấy ra, để cho ráo, lại ủ cho mềm rồi cắt miếng, phơi khô là được. Hoặc cứ 50kg Diêm Phụ Tử rửa sạch, ngâm nước 1 đêm, bỏ vỏ và cuống, cắt miếng, lại ngâm nước cho đến khi nếm không thấy cay, tê thì thôi.
Lấy ra, dùng nước Gừng tẩm 1 – 3 ngày, vớt ra, đồ chín, lại sấy khô đến 7/10, cho vào nồi rang với lửa to cho bay hơi và nứt ra. Lấy ra, để nguội là được. Hoặc trải lên tấm lưới sắt đặt trên lò than hồng, lật qua lại nướng cho phồng nứt ra, để nguội là được [9]. Tác dụng của cây Ô đầu Các cây Ô đầu nói chung đều rất độc (thuốc độc bảng A).
Nhiều dân tộc các nước xưa và nay dùng Ô đầu tẩm độc săn bắn súc vật (kể cả voi). Độc là do chất aconitin của nó, uống 1 mg đến 1,5 mg có thể chết người. Trong củ Ô đầu rửa sạch phơi khô, người ta quy định phải có 0,5% alcaloid toàn phần phụ thuộc vào loại cây, từng địa phương thu hái, thời gian thu hái, cách chế biến và bảo quản. Đặc tính của aconitin là rất dễ thủy phân trong dung dịch nước hay cồn ở nhiệt độ thường và với thời gian bảo quản.
Với sức nóng (như lùi trong tro nóng), nó càng dễ thuỷ phân để cho chất benzoylaconin (400 - 500 lần kém độc) rồi aconin (1.000 lần kém độc hơn). Do đó, ta có thể giải thích tại sao nhân dân các vùng có cây Ô đầu (Tứ Xuyên - Trung Quốc) dùng củ tươi nấu cháo ăn để trị phong thấp như cơm bữa mà không bị ngộ độc. n 8 Tác dụng dược lý: + Nước sắc Phụ tử liều nhỏ làm tăng huyết áp ở động vật được gây mê với liều lượng lớn, lúc đầu làm hạ sau lại làm tăng, tăng lực co bóp cơ tim, tác dụng cường tim rõ, tăng lưu lượng máu của động mạch đùi và làm giảm lực cản của động mạch, làm tăng nhẹ lưu lượng máu của động mạch vành và lực cản. Thành phần cường tim của Phụ tử là phần hòa tan nước.
Độc tính của phần hòa tan cồn rất cao so với phần hòa tan nước. + Tác dụng kháng viêm: Thuốc sắc Phụ tử cho súc vật gây viêm khớp uống hoặc chích màng bụng đều có tác dụng kháng viêm. + Tác dụng nội tiết: Thuốc có tác dụng làm giảm lượng Vitmin C ở vỏ tuyến thượng thận chuột đồng. Một số thí nghiệm trên súc vật chứng tỏ nước thuốc làm tăng tiết vỏ tuyến thượng thận và tăng chuyển hóa đường, mỡ và Protein, nhưng trên 1 số thí nghiệm khác thì tác dụng này chưa rõ (Chinese Herbal Medicin).
+ Thuốc có tác dụng làm tăng miễn dịch cơ thể (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược). + Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: Aconitin với liều 0,1 – 0,2mg/kg có tác dụng làm giảm phản xạ có điều kiện và không điều kiện, làm giảm nồng độ Ammoniac ở não [9]. Công dụng của cây Ô đầu Tác dụng: + Tính tẩu mà bất thủ, thông hành các kinh. + Thông hành 12 kinh.
+ Ôn Thận, hồi dương, hành thủy, chỉ thống. Chủ Trị: + Trị các chứng vong dương, dương hư, hàn tý, âm thư. + Trị vong dương, dương hư, thủy thủng, phong thấp đau nhức khớp xương [18]. n 9 Kiêng kỵ: + Sợ Ngô công, ghét Phòng phong, Hắc đậu, Cam thảo, Hoàng kỳ, Nhân sâm.
+ Tương phản với Phòng phong. + Uống Phụ tử để bổ hỏa tất làm cho thủy bị cạn. + Úy Lục đậu, Ô cửu, Tê giác, Đồng sấu. Kỵ Xị trấp.
+ Người không phải là Thận dương bất túc mà hư hàn nặng: Cấm dùng. Tất cả các chứng dương, chứng hỏa, chứng nhiệt, âm hư nội nhiệt, huyết dịch suy đều không nên dùng[18]. + Âm hư dương thịnh, có thai: Không dùng. Ngộ độc: Khi bị ngộ độc Phụ tử, Ô đầu có dấu hiệu: Chảy nước miếng, muốn nôn, nôn, miệng khô, tiêu chảy, hoa mắt, chóng mặt, chân tay và cơ thể có cảm giác tê, tim hồi hộp, thân nhiệt giảm, huyết áp tụt, mạch chậm, khó thở, chân tay co giật, bất tỉnh, tiêu tiểu không tự chủ: Kim ngân hoa 80g, Đậu xanh 80g, Cam thảo 20g, Sinh khương 20g.
Sắc, pha thêm đường uống để giải [18]. Đơn thuốc kinh nghiệm: + Trị nôn, tiêu chảy, ra mồ hôi, tay chân co rút, tay chân lạnh: Chích thảo 80g, Can khương 60g, Phụ tử 1 củ (dùng sống, bỏ vỏ, cắt làm 8 miếng). Sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng 2 hợp, bỏ bã, chia ra uống ấm. + Trị âm độc thương hàn, mặt xanh, tay chân lạnh, bụng đau, cơ thể lạnh, các chứng lãnh khí: Phụ tử 3 trái (bào chế, bỏ vỏ, cuống).
Mỗi lần uống 9g với ½ chén nước cốt Gừng, ½ chén rượu lạnh [9]. + Trị lậu phong, ra mồ hôi không ngừng: Phụ tử 45g (chế, bỏ vỏ, cuống), Thục tiêu (bỏ mắt, sao cho ra hơi nước) 15g, Hạnh nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao cho ra hơi nước) 15g, Bạch truật 60g. băm nát như hột đậu, sắc với 5 thăng nước còn 2 thăng, bỏ bã, chia làm 4 lần uống ấm. n 10 + Trị quan cách, mạch Trầm, tay chân lạnh: Thục phụ tử (tẩm Đồng tiện), Nhân sâm đều 4g, Xạ hương 1 ít.
Tán nhuyễn, trộn hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng, lấy Xạ hương bọc ngoài. Mỗi lần uống 7 viên với nước sắc Đăng tâm.