mở đầu của đề tài, tác giả sẽ trình bày tổng quan về đề tài, mục tiêu, tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Nội dung chính của chương này trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết được áp dụng trong quá trình thiết kế và thi công hệ thống. 3 Luan van Chương 3: Thiết kế và thi công.
Việc phân tích các yêu cầu, đặc tính, thiết kế phần cứng, cách kết nối và nguyên lý hoạt động sẽ được mô tả chi tiết trong chương 3. Chương 4: Kết quả thực hiện. Sau khi thiết kế và thi công, chương 4 sẽ trình bày kết quả hoạt động của hệ thống đã được xây dựng. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển.
Dựa vào các nghiên cứu của các chương trước, nội dung trình bày trong chương 5 sẽ đưa ra kết luận đạt được, phân tích những ưu điểm, nhược điểm và đề xuất hướng phát triển của đề tài. 4 Luan van CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. GIỚI THIỆU VỀ XỬ LÝ ẢNH Xử lý ảnh là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực thị giác máy, là quá trình biến đổi từ một ảnh ban đầu sang một ảnh mới với các đặc tính và tuân theo ý muốn của người sử dụng. Xử lý ảnh có thể gồm quá trình phân tích, phân lớp các đối tượng, làm tăng chất lượng, phân đoạn và tách cạnh, gán nhãn cho vùng hay quá trình biên dịch các thông tin hình ảnh của ảnh.
[1] Cũng như xử lý dữ liệu bằng đồ hoạ, xử lý ảnh số là một lĩnh vực của tin học ứng dụng. Xử lý dữ liệu bằng đồ họa đề cập đến những ảnh nhân tạo, các ảnh này được xem xét như là một cấu trúc dữ liệu và được tạo bởi các chương trình. Xử lý ảnh số bao gồm các phương pháp và kỹ thuật biến đổi, để truyền tải hoặc mã hoá các ảnh tự nhiên. Mục đích của xử lý ảnh gồm: Biến đổi ảnh làm tăng chất lượng ảnh, tự động nhận dạng ảnh, đoán nhận ảnh, đánh giá các nội dung của ảnh.
Xứ lý ảnh được áp dụng vào thực tế, đem lại nhiều hiệu quả trong các lĩnh vực như: lĩnh vực quân sự (xử lý và nhận dạng ảnh quân sự,.), lĩnh vực giao tiếp người máy (nhận dạng ảnh, xử lý âm thanh, đồ họa,.), lĩnh vực an, bảo mật (nhận diện khuôn mặt người, nhận diện vân tay, … ), lĩnh vực giải trí (trò chơi điện tử,.), lĩnh vực y tế (xử lý ảnh y sinh, chụp X quang, MRI,…), trong công nghiệp (nhận dạng phân loại sản phẩm, trái cây,…). Các bước cần thiết trong xử lý ảnh. Trước đây, hình ảnh được thu từ camera là các ảnh tương tự. Gần đây, với sự phát triển không ngừng của công nghệ, ảnh màu hoặc ảnh đen trắng được lấy từ camera, sau đó được chuyển trực tiếp qua ảnh số để dễ dành cho các bước xử lý tiếp theo.
Dưới đây sẽ mô tả về các bước trong xử lý ảnh. 1 Các bước trong xử lý ảnh 5 Luan van 2. Thu nhận ảnh Đây là công đoạn đầu tiên mang tính quyết định đối với quá trình xử lý ảnh. Ảnh đầu vào sẽ được thu nhận qua các thiết bị như camera, máy scan.
Sau đó các tín hiệu này sẽ được số hóa. Các thông số quan trọng ở đây là độ phân giải, chất lượng. Màu và tốc độ thu nhận ảnh của các thiết bị. Chất lượng của một ảnh thu nhận được phụ thuộc vào thiết bị thu, vào môi trường (ánh sáng, phong cảnh) [2].
Tiền xử lý ảnh Ở bước này, ảnh sẽ được xử lý để cải thiện về độ tương phản, khử nhiễu,. với mục đích làm cho chất lượng ảnh trở nên tốt hơn, rõ nét hơn. Quá trình này thường được thực hiện bởi các bộ lọc. Bộ lọc trung bình được sử dụng chính trong bước tiền xử lý ảnh này, nó là bộ lọc mà mỗi điểm ảnh được thay thế bằng trung bình trọng số của các điểm lân cận nhằm loại bỏ những điểm ảnh biến đổi lớn hơn so với điểm lân cận (hay còn gọi là nhiễu) [2].
Phân đoạn ảnh Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu vào thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh. Ví dụ: để nhận dạng chữ (hoặc mã vạch) trên phong bì thư cho mục đích phân loại bưu phẩm, cần chia các câu chữ về địa chỉ hoặc tên người thành các từ, các chữ, các số (hoặc các vạch) riêng biệt để nhận dạng. Đây là phần phức tạp khó khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh. Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này [2].
Biểu diễn và mô tả Đây là phần sau phân đoạn chứa các điểm ảnh của vùng ảnh (ảnh đã phân đoạn) cộng với mã liên kết ở các vùng lân cận. Việc biến đổi các số liệu này thành dạng thích hợp là cần thiết cho xử lý tiếp theo bằng máy tính. Việc chọn các tính chất để thể hiện ảnh gọi là trích chọn đặc trưng( Feature Extration) gắn với việc tách các đặc tính của ảnh dưới dạng các thông tin định lượng hoặc làm cơ sở để phân biệt lớp đối tượng này với đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận được. Ví dụ: trong nhận dạng ký tự trên phong bì thư, chúng ta miêu tả các đặc trưng của từng ký tự giúp phận biệt ký tự này với ký tự khác [2].
Nhận dạng và nội suy Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh. Quá trình này thường thu được bằng cách so sánh với mẫu chuẩn đã được học (hoặc lưu) từ trước. Nội suy là phán đoán theo ý nghĩa trên cơ sở nhận dạng. Ví dụ: một loạt nét gạch đứng gần nhau trên giấy có thể nội suy thành mã Barcode.
Có nhiều cách phân loại ảnh khác nhau về ảnh. Theo lý thuyết về nhận dạng, các mô hình toán học về ảnh được phân theo hai loại nhận dạng ảnh cơ bản: Nhận dạng theo tham số, nhận dạng theo cấu trúc. Một số đối tượng nhận dạng khá phổ biến hiện nay được áp dụng trong khoa học và công nghệ là: nhận dạng ký tự (chữ in, chữ viết tay, chữ ký điện tử), nhận dạng văn bản (Text), nhận dạng vân tay, nhận dạng mã vạch, nhận dạng mặt người, … [2] 2. GIỚI THIỆU VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI (ARTIFICIAL INTENLLIGENT) 2.
Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intellegence – AI) Hiện nay công khoa học công nghệ phát triển rất nhanh. Một trong những ngành khoa Máy học tính đang là xu hướng hiện nay chính là “trí tuệ nhân tạo AI” đây có thể là một bước đà của sự bùng nổ và khoa học công nghệ thế giới bằng cách chế tạo máy móc thông minh. AI là một trong những lĩnh vực hấp dẫn và phổ biến của khoa Máy học tính có phạm vi rất lớn trong tương lai. AI nắm giữ xu hướng khiến một cỗ máy hoạt động như một con người.
Trí tuệ nhân tạo được xem như một nhánh của khoa Máy học tính liên quan đến sự tự động hóa về hành vi thông minh. Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu về cách làm cho máy tính làm những việc mà hiện tại con người làm rất tốt. Vì vậy, chúng ta có thể định nghĩa AI là:"Đó là một nhánh của khoa Máy học tính, qua đó chúng ta có thể tạo ra những cỗ máy thông minh có thể hành xử như con người, suy nghĩ như con người và có thể đưa ra quyết định. Giải thích thêm về mục tiêu của trí tuệ nhân tạo, các nhà khoa học đã chỉ ra bao gổm sáu mục tiêu sau: - Lập luận logic: Cho phép máy tính thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi trí thông minh của con người như: chứng minh một định lý, lái xe trong giao thông, xác định đúng đối đối tượng.
7 Luan van - Biểu diễn tri thức: Cho phép máy tính mô tả các đối tượng, con người và ngôn ngữ. - Lập kế hoạch và điều hướng: Cho phép máy tính đi từ điểm A đến điểm B. - Xử lý ngôn ngữ: Cho phép máy tính hiểu và xử lý ngôn ngữ. - Nhận thức: Cho phép máy tính tương tác với thế giới thông qua thị giác, thính giác, xúc giác và khứu giác.
- Tự học: Tạo một số hệ thống có thể thể hiện hành vi thông minh, tự học những điều mới, thể hiện, giải thích và có thể tư vấn cho người dùng. Khi nói đến “trí tuệ nhân tạo” ta thường nghe một số thuật ngữ như AI, Machine learning, Deep learning những thuật ngữ trên có mới quan hệ được thể hiện ở hình sau: Hình 2. 2 Mối quan hệ giữa AI, Machine Learning và Deep Learning. Khi nói về 3 khái niệm trên ta có thể hiểu một cách đơn giản: Trí tuệ nhân tạo (AI): một cỗ máy có thể bắt chước hành vi và tư duy của con người.
Máy học (machine learning): Một tính năng của AI, cho phép các chuyên gia đào tạo cho AI để nó nhận biết các mẫu dữ liệu và dự đoán. Học sâu (deep learning): Một kỹ thuật nhỏ của machine learning, cho phép máy có thể tự đào tạo chính mình. Nếu trí tuệ nhân tạo AI nhằm mục đích là cho máy tính thông minh như con người. Thì Machine 8 Luan van learning được định nghĩa "là khả năng để máy tự học mà không cần phải lập trình" theo Arthur Samuel vào năm 1959.
Cụ thể hơn, machine learning đề cập tới bất kỳ hệ thống mà hiệu suất của máy tính khi thực hiện một nhiệm vụ sẽ trở nên tốt hơn sau khi hoàn thành nhiệm vụ đó nhiều lần. Hay nói cách khác, khả năng cơ bản nhất của machine learning là sử dụng thuật toán để phân tích những thông tin có sẵn, học hỏi từ nó rồi đưa ra quyết định hoặc dự đoán về một thứ gì đó có liên quan. Thay vì tạo ra một phần mềm với những hành động, hướng dẫn chi tiết để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, máy tính được “huấn luyện” bằng cách sử dụng lượng dữ liệu và các thuật toán để học cách thực hiện nhiệm vụ. Nếu không có machine learning, AI hiện tại sẽ bị hạn chế khá nhiều bởi nó mang lại cho máy tính sức mạnh để tìm ra mọi thứ mà không được lập trình rõ ràng.
Ví dụ về một loại machine learning, trong đề tài của nhóm thực hiện muốn chương trình xác định được khuôn mặt trong các bước ảnh. Đầu tiên, phải cung cấp cho AI một tập hợp các đặc điểm để máy tính nhận dạng, ví dụ như hình dáng, kích thước,…của khuôn mặt A. Tiếp theo bạn cung cấp một số hình ảnh cho AI trong đó các hình ảnh được dán nhãn là tên của khuôn mặt A.