chương 1, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, điều 3, khoản 22 định nghĩa mang xã hội như sau: “Mang xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.” [39] Từ các cách hiểu trên về mang xã hội, có thé tổng hợp, xâu chuỗi và đưa ra một định nghĩa chung về mạng xã hội như sau: Mạng xã hội là một không gian mạng với hai thành tố chính tạo nên gồm các người dùng và liên kết giữa các thành viên đó; là dịch vụ Internet cho phép kết nối các thành viên cùng sở thích, không phân biệt không gian, thời gian, qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim ảnh,. nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng mạng và mang những giá trị xã hội nhất định. Sự ra đời của mạng xã hội đã làm thay đổi cách con người tiếp nhận và hành xử với thông tin, tạo ra tương tác đa chiều, trở thành nơi bình luận, bày tỏ ý kiến của hàng triệu người. VỊ thế của người tiếp nhận thông tin được nâng lên một tầm mới, không chỉ tiếp nhận, họ còn trở thành những người “sản” và “xuất” thông tin 20 trên nên tảng đó.
Khi càng có nhiêu người sử dụng mạng xã hội, thì sô lượng người tham gia vào quá trình này càng lớn, tạo nên mạng lưới “tiêp nhận”, “sản” và “xuat” không lô với sức lan tỏa đên chóng mặt. Và đó là ly do cho sự hình thành và phát triển của một loạt các trang mạng xã hội chỉ trong một thời gian ngắn. Năm 1994, mạng xã hội đầu tiên Geocities được ra đời, cho phép người dùng có thé khởi tạo và phát triển những địa chỉ, website cá nhân. Một năm sau khi Geocites ra đời, mạng xã hội Theblobe.com được hình thành.
Trang web cho phép người dùng trải nghiệm và xuất bản nội dung bat kì theo ý mình, đồng thời dé dàng tương tác với bạn bè có cùng sở thích. Đến đầu những năm 2000, sự ra đời của một loạt các ứng dụng và công nghệ web như nhật ký (Blog), Wiki, cổng thông tin (Portal), RSS,. cho phép người dùng kết bạn, trò chuyện hay chia sẻ ý kiến. Năm 2004, MySpace xuất hiện với tính năng phim ảnh (embedded video), nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày.
Trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiêu lượt xem hơn cả Google. Đến năm 2006, Facebook và Twitter chính thức phục vụ người dùng trên toàn thế giới, trở thành hai trong số những mạng xã hội phô biến nhất trên Internet. Sau đó là sự xuất hiện của Tumblr, Spotify, Foursquare, Instagram và Pinterest, những mạng xã hội hướng đến phân khúc người dùng di chuyên nhiều, người dùng thích nghe nhạc, người dùng hay chụp ảnh. Trong đó, số người sử dụng các thiết bị di động là 5,112 tỷ người; số người sử dụng các thiết bị di động đề truy cập mạng xã hội là 3,256 tỷ người.
21 Trong số 7,676 tỷ người hiện đang sinh sống trên trái đất, có 3,484 tỷ người đang sử dụng mạng xã hội. Điều này đồng nghĩa với việc, cứ 2 người thì lại có 1 người sử dụng mạng xã hội hàng ngày. Tính riêng trong năm 2018 đã có 288 triệu người sử dụng mạng xã hội lân đâu. Báo cáo cũng thống kê danh sách những mạng xã hội phô biến nhất trên thế giới, trong đó Facebook đứng đầu bảng với 2,271 tỷ người dùng.
Xếp sau Facebook là Youtube, Instagram, QZone với số lượng người dùng tương ứng lần lượt là 1,9 tỷ, 1 tỷ người dùng, 531 triệu. Mặc dù dính phải nhiều bê bối khi rò ri thông tin của hơn §7 triệu tài khoản người dùng, mạng xã hội Facebook vẫn trở thành một phan thiết yếu của gần một phan ba dân số thé giới. Trong 12 tháng qua (tính từ thời điểm 1/2018 đến tháng 1/2019), Facebook đã có thêm 37 triệu người dùng mới, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu tính trung bình thì mỗi ngày Facebook có thêm hơn 100 nghìn người dùng mới và cứ mỗi giây lại có thêm 1 người dùng mới.
Điều này có nghĩa răng thông điệp của một tổ chức/ doanh nghiệp có thé lan tỏa đến hàng triệu triệu người chỉ với một cú dup chuột “like”, “share”, “comment”. Đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức không hè nhỏ đối với các doanh nghiệp trong kỷ nguyên mạng xã hội. Tao lập và quản lý, vận hành trang Facebook của doanh nghiệp (fanpage) làm sao cho hiệu quả, truyền thông, quảng bá sản phẩm, hình ảnh của doanh nghiệp làm sao cho đúng, đến được với đối tượng khách hàng mục tiêu. Đó là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều đang nỗ lực dé thực hiện.
Truyền thông và truyền thông xã hội Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay công cộng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện đề đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy mà hiện nay, trên thế giới, tùy theo góc độ 2 tìm hiéu và nghiên cứu, người ta đã đưa ra rat nhiêu định nghĩa khác nhau vê truyền thông. Dưới góc độ ký hiệu lời, John R.
Hober (1954) cho rằng: “Truyền thông là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bang lời”.Adelsm nhận định dưới góc độ sự hiểu biết của nguoi: “Truyén thông là quá trình qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một quá trình liên tục, luôn thay đổi và biến chuyển dé ứng phó với tình huống”. Dưới góc độ tính công cộng, Frank Dance (1970) cho rằng: “Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiêu người”. Còn Gerald Miler (1966) quan niệm dưới góc độ chủ định: “Về cơ bản truyền quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền một nội dung đến người nhận với chủ đích tác động tới hành vi của họ”.
[18] Tại Việt Nam, trong cuốn sách “Truyền thông đại chúng”, tác giả Tạ Ngọc Tấn (2001) đưa ra định nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiéu biết lẫn nhau.” [19] Còn tác giả Tran Hữu Quang lại gắn liền truyền thông với tính chất của các phương tiện truyền thông đại chúng, cho rằng: “Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội trong đó thông tin được truyền đạt một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình.” [17] Nhìn chung, các định nghĩa, khái niệm trên đều có những nét tương đồng cơ bản. Về ban chat, truyền thông là một quá trình chia sẻ, trao đôi hai chiều, diễn ra 23 liên tục giữa chủ thê truyền thông và đối tượng truyền thông. Quá trình này phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, đem lai sự thay đôi trong nhận thức và hành vi của cá nhân/ nhóm/ xã hội. Tác giả khóa luận hoàn toàn nhất trí với quan điểm về truyền thông của nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng (2006) trong cuốn “Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,.
chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nham tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng đồng/ xã hội”. Dozier, Larissa Grunig, James E. Grunig trong các công trình nghiên cứu của mình thường đồng nhất hai khái niệm truyền thông và PR (Quan hệ công chúng). Dựa trên mô hình truyền thông hai chiều của Shannon - Weaver, các yêu tô cơ bản của truyền thông bao gồm: nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hôi, mã hóa, giải mã.
Nguồn ——— Mã hóa —— Kênh |—— Giải mã |—— Người nhận Nhiễu Phản hồi Hình 1. Mô hình truyền thông hai chiêu của Shannon — Weaver (1949). Theo mô hình trên, nguồn là yếu tố khởi xướng việc thực hiện truyền thông, có thể là một cá nhân hoặc một nhóm người, một tổ chức mang thông điệp tới 24 người nhận nhờ kênh truyền. Thông điệp được mã hóa dưới dạng tín hiệu lời nói, văn bản, thao tác, cử chỉ và gửi đến người nhận.
Trong quá trình truyền tải thông tin, thông điệp có thé bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nhiễu gây ra tình trạng sai lệch nội dung như: tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật,. Sau khi nhận được thông điệp, người nhận cần giải mã thông điệp dé hiểu được nội dung của nó. Tùy theo kiến thức, thái độ của người tiếp nhận, mỗi thông điệp chuyên đến có thê được chấp nhận và hiểu biết khác nhau. Nguồn thu nhận ý kiến phản hồi dé điều chỉnh thông điệp, hoặc cách truyền đạt của mình dé nâng cao hiệu quả truyền thông.
Trước sự phát triển của công nghệ thông tin, quá trình truyền thông cũng có những thay đôi đáng kê. Đặc biệt từ khi xuất hiện mang Internet, nền tang Web 2.0 giúp cho người dùng tự xây dựng được nội dung và kết nối với nhau. Điều này đánh dấu bước phát triển và bùng né của truyền thông xã hội. Theo Andreas Kaplan và Michael Haenlein, truyền thông xã hội là “những ứng dụng Internet xây dựng trên nền tảng công nghệ và lý tưởng của web 2.0, mà tạo điều kiện cho việc kiến tạo và trao đổi thông tin của người dùng.
58-68) Trong khi đó, Murphy định nghĩa truyền thông xã hội đơn giản chỉ là “công cụ truyền thông mà công chúng có thé tao ra và trao đổi thông tin trên mang Internet”. [31] Dưới góc nhìn của các nha Social Media, Pham Thi Thu Trang — Senior Digital Media Planner của công ty Innity nhận định: “Social Media hay “Truyền thông cộng đồng” là truyền thông truyền thống được tích hợp thêm các ứng dụng ưu việt của Internet. Truyền thông cộng đồng cũng truyền đạt thông tin như các phương tiện truyền thông cũ nhưng nó không cé làm một cái “loa” dé truyền tải thông điệp mà cho mọi người trở thành cái loa tự phát lan truyền thông tin và cùng tương tác với bạn bè trong cộng đồng của mình.