CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervison – BCBS), Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà ngân hàng phải gánh chịu tổn thất do khách hàng hoặc đối tác không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng.
Theo tài liệu học tập môn Quản trị rủi ro tín dụng, Học viện Ngân hàng (Thông tư 11/2021/TT-NHNN): “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với của tổ chức tín dụng do khách hàng không có trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng.” Tóm lại, rủi ro tín dụng là là khả năng xảy ra tổn thất tài chính khi khách hàng vay vốn không thực hiện đúng cam kết thanh toán gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng. Đây là loại rủi ro phổ biến và có ảnh hưởng lớn nhất trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ việc khách hàng mất khả năng thanh toán hoặc cố tình vi phạm nghĩa vụ tài chính. Việc quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả là yếu tố sống còn để bảo đảm sự an toàn và phát triển bền vững của ngân hàng. Đặc điểm rủi ro tín dụng - Tính không thể tránh khỏi: Do bản chất của hoạt động cho vay là cấp vốn cho khách hàng với kỳ vọng họ sẽ hoàn trả trong tương lai, ngân hàng không thể dự đoán tuyệt đối khả năng trả nợ của từng khách hàng.
Theo Saunders và Cornett (2014), "rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi vì nó gắn liền với hoạt động cốt lõi của ngân hàng, nơi ngân hàng chấp nhận rủi ro để tạo ra lợi nhuận từ lãi suất". 9 - Tính lan truyền: Rủi ro tín dụng có khả năng lan truyền từ một khách hàng sang các khách hàng khác hoặc từ một lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Basel Committee on Banking Supervision (2000) đã nhấn mạnh rằng "rủi ro tín dụng có thể lan rộng thông qua các mối quan hệ kinh tế giữa các bên liên quan, đặc biệt trong các ngành có tính liên kết cao". - Tính tập trung: Hull (2018) chỉ ra rằng "rủi ro tập trung là một dạng rủi ro tín dụng đặc biệt nguy hiểm, vì nó làm tăng khả năng mất mát nghiêm trọng khi một sự kiện bất lợi xảy ra ở các lĩnh vực tập trung".
Ví dụ, nếu ngân hàng cho vay chủ yếu vào ngành bất động sản và thị trường này suy thoái, tỷ lệ nợ xấu sẽ tăng đột biến. - Tính không đối xứng thông tin: Rủi ro tín dụng thường đi kèm với sự không đối xứng thông tin giữa ngân hàng và người sử dụng dịch vụ, họ hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của mình và đôi khi che giấu thông tin bất lợi. Saunders và Cornett (2014) giải thích rằng "tính không đối xứng thông tin gây ra hai vấn đề lớn: lựa chọn bất lợi trước khi cấp tín dụng và rủi ro đạo đức sau khi cấp tín dụng". - Tính chu kỳ: Basel Committee on Banking Supervision (2000) nhận định rằng "rủi ro tín dụng mang tính chu kỳ rõ rệt, đòi hỏi ngân hàng phải điều chỉnh chính sách tín dụng phù hợp với từng giai đoạn kinh tế".
- Tính pháp lý: Hull (2018) lưu ý rằng: "môi trường pháp lý là yếu tố quan trọng tác động đến rủi ro tín dụng, đặc biệt ở các quốc gia có khung pháp lý chưa hoàn thiện". Tại Việt Nam, việc giải quyết tài sản thế chấp có khi bị trì hoãn do các rào cản pháp lí, làm tăng rủi ro cho các tổ chức tín dụng. - Tính đa dạng: Rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều cá nhân/ tổ chức khác nhau. Saunders và Cornett (2014) khẳng định rằng "tính đa dạng của rủi ro tín dụng yêu cầu ngân hàng phải xây dựng chiến lược quản trị linh hoạt, phù hợp với từng loại khách hàng".
Phân loại rủi ro tín dụng Theo tác giả Dương Hoàng Anh (2017) và theo sự tìm hiểu của tác giả: 10 “Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng được phân loại thành: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Trong đó: + Rủi ro giao dịch là rủi ro phát sinh từ việc khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán do các yếu tố liên quan đến giao dịch cụ thể, như sử dụng vốn vay sai mục đích, gian lận trong hồ sơ vay, hoặc không tuân thủ các điều khoản hợp đồng tín dụng. + Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng tập trung quá nhiều vốn vay vào một nhóm khách hàng, ngành nghề hoặc khu vực địa lý, dẫn đến tổn thất lớn nếu nhóm đó gặp khủng hoảng. Căn cứ theo tính chất của nguyên nhân, rủi ro tín dụng được phân chia thành: Rủi ro khách quan và Rủi ro chủ quan.
Trong đó: + Rủi ro khách quan là rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố bên ngoài mà ngân hàng và người sử dụng dịch vụ không thể kiểm soát, như biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai, hoặc thay đổi chính sách pháp luật. + Rủi ro chủ quan là rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố nội tại của ngân hàng hoặc khách hàng, như quy trình thẩm định tín dụng yếu kém, năng lực quản trị của ngân hàng hạn chế, hoặc hành vi gian lận của khách hàng. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Theo tìm hiểu của tác giả và theo ThS. Lương Hải Sinh (2023) đăng trên webisite của NHNN Việt Nam: 1.
Nguyên nhân từ phía khách hàng Thứ nhất, sự dụng vốn sai mục đích, không có thiên chi trả lâu vay. Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khá thị. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, có ý tra duy cao để chiếm đoạt 11 tài sản không nhiều. Tuy nhiên, nhiều vụ việc phát sinh lại là sực nặng nề, liên quan đến tín cả cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.
Thứ hai, khả năng quản lý kinh doanh kém. Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất, vận hành sản xuất kinh doanh, tài chính, kế toán theo định hướng cũ mà không chú trọng quản lý mắm sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo chuẩn mực. Quy mô kinh doanh mở rộng nhưng không đủ khả năng quản lý làm suy yếu năng lực tài chính dẫn sự phá sản các chương trình kinh doanh, từ đó dẫn đến không còn khả năng trả nợ trước thời hạn. Thứ ba, tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỉ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu cao, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường xuyên che giấu các chỉ số tài chính để vay được vốn, nhưng thực tế họ không có khả năng trả nợ. Doanh nghiệp yếu kém, không thể tiếp cận các nguồn vốn khác nên buộc phải vay ngân hàng, không có kế hoạch tài chính dài hạn. Khi các doanh nghiệp lớn thất bại, nguy cơ phá sản của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường rất cao, làm rủi ro tín dụng của ngân hàng lớn thêm, nguy cơ rủi ro toàn ngành. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Thứ nhất, thiếu chặt chẽ trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng.
Công tác kiểm tra nội bộ có điểm mạnh ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc. Tuy nhiên, với thời gian qua, công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng còn nhiều tồn tại. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
12 Thứ hai, vẫn còn cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Thời gian qua xuất hiện một số vụ việc liên quan đến cán bộ ngân hàng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng. Đây được đánh giá là một trong các yếu tố vô cùng quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém năng lực sẽ cần bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì vô cùng nguy hiểm khi được bố trí công tác tín dụng.
Thứ ba, hạn chế trong giám sát và quản lí sau khi cho vay. Các ngân hàng thường tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay hơn quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lí một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng đối với khoản tín dụng đã giải ngân.
Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đã nêu trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, trong thực tế, công tác này chưa thực sự hiệu quả. Điều này một phần do yếu tố tâm lí ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lí phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp còn kém, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng yêu cầu. Thứ tư, sự hợp tác giữa các ngân hàng còn thiếu chặt chẽ.
Kinh doanh ngân hàng là một nghề nhạy cảm, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi. Các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro.