Khóa luận tốt nghiệp Y tế: khảo sát nồng độ ca 199 ca 724 và cea ở các

Chuyên đề nghiên cứu Khóa luận khảo sát nồng độ ca 199 ca 724 và cea ở các bệnh nhân có bệnh lý gan m, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của các dấu ấn ung thư

Các dấu ấn ung thư là những chất được sinh ra bởi các tế bào ung thư hoặc do cơ thể sản sinh để đáp ứng với sự có mặt của tế bào ung thư. Trong đó, CA 19-9, CA 72-4CEA là những marker ung thư quan trọng được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi các bệnh lý, đặc biệt là các bệnh ung thư buồng tiêu hóa. Các chỉ số này có giá trị lâm sàng cao trong việc phát hiện sớm các bệnh lý ác tính ở gan, mật, tuyến tụy và dạ dày. Nghiên cứu về nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA giúp các bác sĩ đánh giá tình trạng bệnh nhân và lập kế hoạch điều trị phù hợp.

1.1. Định nghĩa dấu ấn ung thư trong y học

Dấu ấn ung thư hay tumor marker là những protein, hormone hoặc các chất khác được sản sinh từ các tế bào ung thư. Khi có bệnh lý liên quan đến ung thư, nồng độ này tăng cao trong máu và các chất lỏng cơ thể. CA 19-9, CA 72-4CEA thuộc nhóm kháng nguyên ung thư có tầm quan trọng trong việc phát hiện các bệnh lý gan mật.

1.2. Ứng dụng lâm sàng của marker ung thư

Các marker ung thư được ứng dụng trong chẩn đoán, theo dõi và đánh giá tiên lượng bệnh. Nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA tăng cao có thể gợi ý bệnh lý ác tính ở gan, mật, tuyến tụy và dạ dày. Chúng hỗ trợ bác sĩ trong việc quyết định phương pháp điều trị và đánh giá hiệu quả điều trị theo thời gian.

II. Đặc điểm và giá trị tham chiếu của CA 19 9 CA 72 4 và CEA

CA 19-9 (Carbohydrate antigen 19-9) là antigen ung thư thường gặp ở bệnh ung thư tuyến tụy, dạ dày và gan mật. Giá trị bình thường của CA 19-9 thường dưới 37 U/mL. CA 72-4 (Carbohydrate antigen 72-4) có vai trò quan trọng trong phát hiện ung thư dạ dày và ung thư buồng tiêu hóa, với nồng độ bình thường dưới 6 U/mL. CEA (Carcinoembryonic antigen) là marker ung thư phổ biến trong ung thư đại trực tràng, phổi và vú, với giá trị tham chiếu dưới 5 ng/mL. Sự tăng nồng độ của các chỉ số này giúp cảnh báo bệnh lý ác tính.

2.1. Lịch sử phát triển và công nhân các dấu ấn ung thư

CA 19-9 được phát hiện năm 1981, CA 72-4 được công nhân vào năm 1981, và CEA được phát hiện sớm nhất vào năm 1965. Ba marker ung thư này đã trở thành những công cụ chẩn đoán quan trọng trong lâm sàng. Các nghiên cứu lâm sàng về nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA ở bệnh nhân có bệnh lý gan mật đã chứng minh giá trị chẩn đoán của chúng.

2.2. Giá trị tham chiếu và ý nghĩa lâm sàng

Giá trị bình thường của CA 19-9 là < 37 U/mL, CA 72-4 là < 6 U/mL, và CEA là < 5 ng/mL. Khi nồng độ vượt quá các giá trị này, cần tiến hành các xét nghiệm bổ sung để xác định nguyên nhân. Mối tương quan giữa các marker ung thư và các chỉ số hóa sinh khác như bilirubin, ALT, AST có ý nghĩa trong đánh giá mức độ tổn thương gan mật.

III. Phương pháp định lượng và phân tích các marker ung thư

Phương pháp xác định nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA chủ yếu sử dụng kỹ thuật miễn dịch như electrochemiluminescence immunoassaychemiluminescence immunoassay. Các phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho phép phát hiện các giá trị marker ung thư ngay cả ở những bệnh nhân có nồng độ thấp. Việc đo lường chính xác các dấu ấn ung thư đòi hỏi quy trình lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu nghiêm ngặt. Phương pháp phân tích này được áp dụng rộng rãi tại các bệnh viện lớn như Bệnh viện Bạch Mai để hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý gan mật.

3.1. Nguyên lý kỹ thuật xác định marker ung thư

Kỹ thuật electrochemiluminescence hoạt động theo nguyên lý sandwich, trong đó các kháng thể đặc hiệu liên kết với antigen (CA 19-9, CA 72-4, CEA) để tạo phức hợp. Phương pháp này cho phép định lượng nồng độ marker ung thư với độ chính xác cao, giúp bác sĩ có dữ liệu đáng tin cậy để đánh giá tình trạng bệnh nhân.

3.2. Yêu cầu kỹ thuật về lấy mẫu và bảo quản

Lấy mẫu máu từ bệnh nhân phải thực hiện đúng quy trình để đảm bảo chất lượng. Mẫu máu được để yên trong ít nhất 30 phút để máu đông tự nhiên, sau đó ly tâm để tách huyết thanh. Bảo quản huyết thanh ở nhiệt độ 2-8°C để duy trì ổn định nồng độ marker ung thư. Thời gian từ khi lấy mẫu đến khi phân tích không nên quá 24 giờ.

IV. Khảo sát nồng độ marker ở bệnh lý gan mật tại Bệnh viện Bạch Mai

Nghiên cứu khảo sát nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA ở bệnh nhân có bệnh lý gan mật tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2020 là một nghiên cứu lâm sàng có ý nghĩa quan trọng. Dữ liệu thu thập từ 2020 cho thấy mối tương quan rõ rệt giữa nồng độ các marker ung thư và mức độ tổn thương gan mật. Kết quả cho thấy bệnh nhân có bệnh lý gan mật thường có nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA tăng cao hơn so với nhóm đối chứng bình thường. Những phát hiện này giúp đánh giá tiên lượng bệnh và hỗ trợ quyết định phương pháp điều trị.

4.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên các bệnh nhân có bệnh lý gan mật tại Bệnh viện Bạch Mai, bao gồm ung thư gan, ung thư tuyến tụy và các bệnh viêm gan mạn tính. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân dựa trên chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh. Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm lấy mẫu máu, đo nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA bằng kỹ thuật miễn dịch và xử lý thống kê.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa lâm sàng

Kết quả cho thấy nồng độ CA 19-9 tăng cao ở hầu hết bệnh nhân ung thư tuyến tụy và ung thư gan. Mối tương quan giữa nồng độ các marker ung thư với các chỉ số hóa sinh như bilirubin, ALT, AST cho thấy sự liên kết chặt chẽ. Những phát hiện này khẳng định giá trị của CA 19-9, CA 72-4 và CEA trong chẩn đoán và theo dõi bệnh lý gan mật.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là bệnh lý ác tính gây ra bởi sự xuất hiện các tế bào bất thường, nhân lên và phân chia mất kiểm soát, xâm lấn các mô xung quanh và có thể di căn xa. Ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Theo thống kê của GLOBOCAN, năm 2020, tình hình mắc và tử vong do ung thư trên toàn thế giới đều có xu hướng tăng. Tại Việt Nam, ước tính có 182.563 ca mới và 122.690 ca tử vong do ung thư.

Tỷ lệ này cũng tương tự với nhiều quốc gia trên thế giới: Ý, Pháp, Mỹ. Do đó, quá trình phát hiện chẩn đoán sớm và điều trị ung thư là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần một phương pháp dễ dàng thực hiện và nhanh chóng để tầm soát bệnh. Trong đấy có xét nghiệm định lượng của các marker ung thư đang ngày càng chiếm ưu thế trong sàng lọc bệnh nhân ung thư sớm.

Kháng nguyên nhóm máu CA 19-9, CA 72-4 và CEA là những marker quan trọng trong chẩn đoán ung thư đường tiêu hóa: tụy, đường mật, đại trực tràng, dạ dày… Công dụng chính của các dấu ấn sinh học này là trong chẩn đoán ung thư cũng như đánh giá phản ứng với hóa trị và xác định tiên lượng cũng như dự đoán sự tái phát của khối u. Đã có nhiều tiến bộ liên quan đến các kết quả cụ thể về ung thư trong những thập kỉ gần đây. Các dấu ấn sinh học hiệu quả là một công cụ đầy hứa hẹn có thể có tác động tích cực và chắc chắn sẽ có vai trò quan trọng trong việc quản lý bệnh nhân ung thư [20]. Tuy nhiên, những dấu hiệu này cũng có những hạn chế đáng kể như thiếu độ nhạy, kết quả âm tính giả trong một số nhóm máu nhất định, cũng như tăng dương tính giả trong một số bệnh lý hoặc khi có vàng da tắc nghẽn [10].

Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các marker ung thư: CA 19-9, CA 72-4, CEA có thể tăng lên trong một số trường hợp lành tính, nhưng sự tăng cao của các marker này có thể gây ra nỗi sợ hãi về ung thư và các xét nghiệm, can thiệp tiếp theo không cần thiết. CA 19-9 là chất chỉ điểm khối u tăng cao trong các bệnh lý ác tính tuyến tụy hoặc đường mật và nó đã được coi là một xét nghiệm đáng tin cậy để phát hiện bệnh lý ác tính đường mật. Những nghiên cứu trên thế giới chứng minh rằng CA 19-9 là một chất hỗ trợ hữu ích trong chẩn đoán ung thư đường mật, tuy nhiên nó không đặc hiệu cho bệnh lý ác tính này [35]. Đã có những nghiên cứu trên thế giới về mức độ tăng CA 19-9 trong huyết tương bệnh lý gan như: nghiên cứu của đại học Catania- Ý (2013) về 1 nồng độ CA 19-9 trên bệnh nhân viêm gan mãn, xơ gan do virus viêm gan B và C [11]; Theo một nghiên cứu của Hàn Quốc (2020) CA 19-9 có thể tăng cao hoặc dương tính giả trong một số bệnh lý tiêu hóa không ác tính: viêm gan virus, xơ gan, bệnh lý gan tự miễn[40] hay nghiên cứu của đại học Temple- Hoa Kì (2012) ghi nhận CA 19-9 tăng cao trong bệnh lý viêm gan C [70].

CA 72-4 cũng đã được tìm hiểu trong nhiều nghiên cứu trên thế giới: CA 72-4 có thể tăng trong bệnh lý lành tính. Nghiên cứu của Xueshan Bai và cộng sự (2019) CA 72-4 tăng cao trong bệnh lý gout [81], CA 72-4 tăng cao liên quan tình trạng nhiễm H.P không ác tính, loét dạ dày, viêm dạ dày teo [33]. Nghiên cứu tại Boston cho biết CA 72- 4 tăng liên qaun đến bệnh lý viêm tụy, u tụy lành tính [9]. Mức độ kháng nguyên CEA huyết tương có thể là một dấu hiệu của bệnh lý ác tính.

Thật vậy, mức CEA tăng cao là một yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng [24]. Tuy nhiên cũng có những yếu tố di truyền quyết định mức độ CEA cũng có mặt trong những người khỏe mạnh [48]. CEA tăng cao hơn đối với nam giới, người hút thuốc và người cao tuổi [32], những bệnh lý lành tính: xơ gan, viêm gan, viêm tụy, viêm ruột… [30]. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Khảo sát nồng độ CA 19-9, CA 72-4 và CEA ở các bệnh nhân có bệnh lý gan mật tại bệnh viện Bạch Mai năm 2020” với 2 mục tiêu: • Mục tiêu 1: Khảo sát được nồng độ CA 19-9, CA 72-4, CEA trên các bệnh nhân có bệnh lý gan mật.

• Mục tiêu 2: Bước đầu đánh giá được mối liên quan giữa nồng độ CA 19- 9, CA 72-4, CEA với một số chỉ số hóa sinh trên các bệnh nhân có bệnh lý gan mật. Đại cương về các dấu ấn ung thư 1. Khái niệm các dấu ấn ung thư trong y học Một dấu ấn sinh học là một đặc trưng của một bệnh, được đo khách quan và được đánh giá như một chỉ điểm của quá trình sinh học thông thường, quá trình bệnh học, hoặc sự đáp ứng với điều trị. Dấu ấn ung thư là những sản phẩm của khối u hoặc của cơ thể chủ tạo ra để đáp ứng lại sự có mặt của khối u trong cơ thể.

Các dấu ấn này thường được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa mô khối u và mô lành hoặc xác định sự tồn tại của khối u căn cứ vào các kết quả xét nghiệm máu hoặc các dịch tiết [6]. Về mô bệnh học, mô ung thư được chia thành 3 thể dựa vào mức độ biệt hóa: (1) thể biệt hóa, (2) thể kém biệt hóa, (3) thể chưa biệt hóa [31]. Dấu ấn ung thư có thể là yếu tố bản chất hóa sinh hay miễn dịch của từng giai đoạn phát triển và biệt hóa của khối u, như là dấu hiệu sinh học của một khối u [27].1: Hình ảnh mô phỏng mô ung thư điển hình [41] Một mô ung thư điển hình bao gồm các tế bào ung thư, mô kẽ và mạch ung thư trông giống như một bào thai như Hình 1. Bao gồm 3 thành phần: Chất chỉ điểm khối 3 u cụ thể của khối u (kháng nguyên thai nhi), chất chỉ điểm khối u liên quan đến khối u (kháng nguyên trên nhau thai) và chất chỉ điểm khối u liên quan đến tăng trưởng (mạch máu ung thư).

Có một số dấu ấn ung thư đặc hiệu đối với từng loại ung thư nhất định song cũng có những dấu ấn lại thấy ở một số loại ung thư. Do vậy các dấu ấn này không được sử dụng để chẩn đoán ung thư. Tuy nhiên, thường nồng độ các dấu ấn này trong máu cao phản ánh mức độ hoạt động của khối u cũng như thể tích khối u [34]. Một dấu ấn ung thư lý tưởng trên lâm sàng phải là dấu ấn đặc hiệu với một loại ung thư nhất định, đồng thời dấu ấn này phải có độ nhạy đủ để có thể phát hiện những khối u nhỏ giúp cho việc chẩn đoán sớm hoặc sàng lọc.

Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít các dấu ấn đặc hiệu cho một loại ung thư riêng biệt (tumor- specific marker) mà đa số các dấu ấn được biểu hiện ở các khối u khác nhau trên cùng một mô (tumor- associated marker) [6]. Các dấu ấn này thường được phát hiện với lượng cao ở mô ung thư hoặc trong máu của bệnh nhân ung thư so với mô của khối u phì đại lành tính hoặc trong máu của người bình thường. Các dấu ấn ung thư còn có giá trị trong việc đánh giá sự tiến triển của bệnh cũng như theo dõi hiệu quả điều trị bệnh [20]. Ứng dụng của các marker ung thư trong lâm sàng Các dấu ấn ung thư có thể được sử dụng phục vụ chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi hiệu quả điều trị cũng như phục vụ cho liệu pháp điều trị đích.

Dấu ấn ung thư phải được sản xuất bởi các tế bào khối u và có thể phát hiện được ở trong các dịch cơ thể. Các dấu ấn này phải không có mặt ở người khỏe mạnh hoặc ở mô phì đại lành tính. Vì vậy mà các dấu ấn ung thư này có thể được sử dụng để chẩn đoán cho từng cá thể hoặc dung để sàng lọc trong cộng đồng. Các dấu ấn ung thư mà có mặt ở cả mô lành, mô phì đại lành tính và mô ung thư, không có đủ độ đặc hiệu thì sẽ không được sử dụng trong sàng lọc ung thư.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu tỷ lệ mắc ung thư cao trong một số cộng đồng dân cư thì có thể ứng dụng các dấu ấn này để sàng lọc trong cộng đồng. Ví dụ như việc sử dụng AFP để sàng lọc ung thư gan nguyên phát ở Trung Quốc và Alaska [59]. Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) kết hợp với siêu âm giúp chẩn đoán sớm ung thư tuyến tiền liệt. Thực trạng việc ứng dụng dấu ấn ung thư: 4 Bảng 1.1: Thực trạng việc ứng dụng dấu ấn ung thư [6] Ứng dụng Giá trị Nhận xét áp dụng Sàng lọc ung Hạn chế Các dấu ấn phải tăng nhanh ở giai đoạn đầu của quá thư trình phát sinh và phát triển khối u.

Trong khi đa số dều xuất hiện ở giai đoạn muộn. Đa số các dấu ấn đều không đặc hiệu đối với một thể loại ung thư cụ thể (PSA) do vậy hay tạo nên dương tính giả. Sàng lọc nếu được tiến hành thì phải triển khai được ở cộng đồng dân cư. Chẩn đoán ung Hạn chế Đa số các dấu ấn ung thư có độ nhạy và độ đặc hiệu thư thấp.

Tuy nhiên đối với cộng đồng nhỏ có nguy cơ cao thì việc ứng dụng dấu ấn trong chẩn đoán có giá trị. Tiên lượng Hạn chế Đa số các dấu ấn đều có giá trị tiên lượng song độ chính xác thì không cao và không đảm bảo được việc điều trị can thiệp. Tiên đoán đáp Quan Mặc dù các dấu ấn ung thư có giá trị tiên đoán đáp ứng điều trị trọng ứng điều trị nhưng có rất ít dấu ấn đạt được yêu cầu này. Ví dụ: thụ thể hormon Steroid có giá trị trong việc tiên đoán đáp ứng với kháng estrogen và Her- 2/neu ứng dụng tiên đoán đáp ứng với Herceptin ở bệnh nhân ung thư vú.

Phân loại giai Hạn chế Tương tự như mục tiêu “tiên lượng” bởi lẽ các số liệu đoạn phát triển thu được đều không đủ tin cậy để có thể phân định khối u chính xác giai đoạn phát triển của khối u trừ khi số liệu đó phản ánh thể tích khối u.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ