Khóa luận tốt nghiệp: hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người

Đề tài tốt nghiệp về Khóa luận hôn nhân đồng tính dưới góc độ quyền con người điều tra thực trạng chuyên môn hiện nay tại Việt Nam

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

69
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phát triển của quyền con người trong bối cảnh hôn nhân đồng tính

Quyền con người là những quyền cơ bản được ghi nhận trong các tài liệu quốc tế và các hiến pháp quốc gia, nhằm bảo vệ phẩm giá và tự do của mỗi cá nhân. Quyền kết hôn được coi là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948. Sự phát triển của quyền con người qua các giai đoạn lịch sử cho thấy xu hướng mở rộng và bảo vệ ngày càng toàn diện các quyền của những nhóm người bị phân biệt đối xử. Hôn nhân đồng tính hiện đại đặt ra những thách thức lớn cho hệ thống pháp luật truyền thống, đòi hỏi sự công nhận và bảo vệ quyền con người mà không phân biệt hướng tính luyến ái của cá nhân.

1.1. Khái niệm quyền con người và sự phát triển lịch sử

Quyền con người là những quyền vốn có của mọi con người, không phụ thuộc vào địa vị xã hội, giới tính hay hướng tính. Các quyền con người được phát triển qua ba giai đoạn: quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, và quyền của nhóm dân cộng. Sự phát triển này phản ánh nỗ lực liên tục của nhân loại trong việc bảo vệ và mở rộng quyền cơ bản cho tất cả mọi người, bất kể sự khác biệt của họ.

1.2. Quyền kết hôn trong các công ước quốc tế về nhân quyền

Quyền kết hôn được ghi nhận rõ ràng trong UDHR (Điều 16) và ICCPR (Điều 23), khẳng định rằng mọi người, không phân biệt giới tính, đều có quyền tự do lựa chọn người bạn đời. Những công ước quốc tế này tạo thành nền tảng pháp lý để các quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính như một quyền cơ bản của con người không thể bị xâm phạm hay bị từ chối.

II. Người đồng tính và quyền lợi pháp lý của họ

Người đồng tính bao gồm những cá nhân có hướng tính luyến ái khác với đa số xã hội, gồm đồng tính nam (Gay), đồng tính nữ (Lesbian), song tính (Bisexual) và những người chuyển giới (Transgender). Quyền lợi pháp lý của người đồng tính bắt đầu được ghi nhận từ cuối thế kỷ 20, khi các tổ chức quốc tế như Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) chính thức công bố rằng đồng tính luyến ái không phải là bệnh tâm thần mà là một biểu hiện tự nhiên của tính dục con người. Quyền của người đồng tính bao gồm quyền không bị phân biệt đối xử, quyền tự do ngôn luận, quyền kết hôn, và quyền nuôi dạy con em.

2.1. Khái niệm người đồng tính và các nhóm LGBT

Người đồng tính hay nhóm LGBT là những cá nhân có định hướng tính luyến ái hoặc bản dạng giới tính khác với tiêu chuẩn truyền thống. Sự công nhận đa dạng tính luyến ái này là bước tiến quan trọng trong bảo vệ quyền con ngườiquyền bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội hiện đại.

2.2. Cơ sở pháp lý cho quyền của người đồng tính

Các công ước quốc tế như ICCPRICESCR đều hình thành nên cơ sở pháp lý vững chắc cho quyền của người đồng tính. Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc (HRC) đã xác nhận rằng các quy định về bình đẳng và không phân biệt đối xử trong các công ước này cũng áp dụng cho người dựa trên hướng tính luyến ái, khẳng định quyền con người bình đẳng cho người đồng tính.

III. Thực trạng công nhận hôn nhân đồng tính trên thế giới

Trên thế giới, tình hình công nhận hôn nhân đồng tính rất khác nhau giữa các quốc gia. Một số nước như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Thứ Ba, Nam Phi, Thụy Điển và gần đây là các tiểu bang Hoa Kỳ đã công nhận chính thức hôn nhân đồng tính bằng luật pháp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ chưa công nhận, thậm chí có những nước vẫn coi hôn nhân đồng tính là bất hợp pháp. Ở Việt Nam, mặc dù người đồng tính không bị phạt tù, nhưng hôn nhân đồng tính vẫn chưa được công nhận bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Bộ luật dân sự năm 2015.

3.1. Các quốc gia đã công nhận quyền kết hôn đồng tính

Những quốc gia tiên phong trong việc công nhận hôn nhân đồng tính bao gồm các nước phát triển với nền tảng quyền con người vững chắc. Những quyết định này thể hiện quyền bình đẳngquyền tự do trong lựa chọn bạn đời, đồng thời khẳng định rằng quyền kết hônquyền con người không thể phủ nhận.

3.2. Quy định pháp luật về hôn nhân đồng tính ở Việt Nam

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ công nhận hôn nhân giữa người nam và người nữ, không công nhận hôn nhân đồng tính. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng không có quy định về quyền kết hôn của người đồng tính. Tình trạng này gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền con người của cộng đồng LGBTViệt Nam.

IV. Những kiến nghị bảo vệ quyền kết hôn đồng tính ở Việt Nam

Để bảo vệ quyền con ngườiquyền bình đẳng cho người đồng tính, Việt Nam cần thực hiện những thay đổi quan trọng trong hệ thống pháp luật. Trước tiên, cần sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình để công nhận hôn nhân đồng tính như một quyền cơ bản. Thứ hai, cần nâng cao nhận thức xã hội về quyền con ngườitính đa dạng tính luyến ái. Thứ ba, cần đảm bảo bình đẳng về quyền kế thừa, quyền nuôi dạy con em và các quyền khác cho cặp đôi đồng tính. Những kiến nghị này phù hợp với các công ước quốc tế về nhân quyềnViệt Nam đã ký kết.

4.1. Hệ quả pháp lý khi không công nhận hôn nhân đồng tính

Sự không công nhận hôn nhân đồng tính dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực: người đồng tính không có quyền kế thừa, không được bảo vệ tài sản chung, không có quyền nuôi dạy con em chung, và không được hưởng các quyền xã hội. Tình trạng này vi phạm quyền con người cơ bản và gây bất bình đẳng trong xã hội.

4.2. Kiến nghị cải cách pháp luật về hôn nhân đồng tính

Việt Nam nên sửa đổi Bộ luật dân sựLuật Hôn nhân và gia đình để công nhận hôn nhân đồng tính, bảo vệ đầy đủ quyền con người cho cộng đồng LGBT. Điều này sẽ giúp Việt Nam tuân thủ các công ước quốc tế và thể hiện cam kết bảo vệ quyền bình đẳng con người.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 tiếp cận từ góc độ quyền tự nhiên như việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả mọi người. Tại Điều 1 ghi nhận sự tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Bên cạnh đó, một số văn kiện chính trị - pháp lý của nhiều quốc gia cũng khẳng định các quyền con người là tự nhiên, như Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776): “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; Tuyên ngôn Dân quyền và Quyền con người của Pháp (1789):“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”; Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam 15 (1945): “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Chúng ta có thể thấy, trong các văn kiện quốc tế và pháp luật quốc gia luôn nhấn mạnh quyền bình đẳng và quyền không bị đối xử. Trong Luật nhân quyền quốc tế không chỉ ghi nhận “bình đẳng” và “không bị phân biệt đối xử” là quyền mà đó cũng là những nguyên tắc nền tảng của quyền con người. Nguyên tắc không bị phân biệt đối xử được đề cập trong các văn kiện quốc tế như UDHR, ICCPR, ICESCR và lần đầu được khẳng định trong UDHR. Cụ thể, tại Điều 1 UDHR khẳng định rằng: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền….”; Điều 2 UDHR quy định về quyền được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay bất cứ thân trạng nào khác.

Nguyên tắc không bị phân biệt đối xử được cụ thể hoá hơn trong Điều 2 ICCPR và Điều 2 ICESCR. Theo đó, các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng và bảo đảm các quyền đã được ghi nhận trong ICCPR, ICESCR cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản hay thành phần xuất thân hay bất cứ thân trạng nào khác. Trong Bình luận chung số 20, đoạn 32, Ủy ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội của Liên hợp quốc khẳng định rằng sự đảm bảo không phân biệt đối xử trong ICESCR đã bao gồm xu hướng tính dục: "bất cứ thân trạng nào khác" (“other status”) được ghi nhận trong Điều 2, khoản 2, bao gồm các xu hướng tính dục. Các quốc gia phải đảm bảo rằng xu hướng tính dục của một người không phải là một rào cản đối với việc thực hiện quyền ghi nhận trong Công ước”.

Nguyên tắc bình đẳng: Tại Điều 7 UDHR quy định: “mọi người đều 16 bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. ICCPR tiếp tục khẳng định nguyên tắc nêu trên tại Điều 26, đồng thời nêu rõ: “… pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác” Như vậy, xét về sự công bằng trong quyền được sống và quyền được tự do. Những người LGBT là những người hoàn toàn bình thường, có khả năng thực hiện được những nghĩa vụ trong xã hội và có quyền được hưởng các quyền như những người khác. Một trong những quyền đó là quyền được công nhận và tôn trọng.

Sống theo xu hướng tính dục và bản dạng giới của mình là một phần của tự do. Hơn nữa, nhu cầu được công khai và được xã hội công nhận của người LGBT không ảnh hưởng hay đe doạ tới bất kỳ lợi ích hợp pháp chung nào cả. Nhưng trên thực tế, khi người LGBT công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới của mình thì bị cản trở từ những thành kiến xã hội và những quan điểm sai lầm. Xét về quyền mưu cầu hạnh phúc: Năm 2013, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết công bố ngày 20 tháng 3 hằng năm là Ngày Quốc tế Hạnh phúc (International Day of Happiness) khẳng định “việc theo đuổi hạnh phúc là một mục tiêu cơ bản của con người”.

Con người bằng khả năng của mình để tìm kiếm những giá trị hạnh phúc, những giá trị sống cho bản thân. Một trong các giá trị hạnh phúc đó đến từ việc kết hôn xây dựng một gia đình hạnh phúc và được Nhà nước công nhận, bảo vệ quan hệ hôn nhân đó. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ những người đồng tính ở các quốc gia đã công nhận hôn nhân đồng tính mới có được quyền chính đáng đó. Một số hình thức thừa nhận việc chung sống hợp pháp của người đồng tính như: cho phép kết hôn, công nhận dưới hình thức kết hợp dân sự, đối tác chung nhà … Họ được xem như một cặp vợ chồng dị tính nhưng thực tế lại bị hạn chế hơn 17 các cặp vợ chồng dị tính khác như trong vấn đề được hưởng các chính sách về miễn giảm thuế chung cho vợ chồng, các chế độ an sinh xã hội, bảo hiểm, trợ cấp quyền nhận nuôi con nuôi, thừa kế… và giá trị pháp lý của giấy kết hợp dân sự không đương nhiên có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hay toàn thế giới.

Điều này gây ra không ít cản trở cho các cặp đôi đồng tính khi di chuyển hoặc thay đổi chỗ ở. Bên cạnh đó, vấn đề tôn trọng quyền riêng tư cũng cần được đề cập tới đối với người LGBT. Bởi trong quan điểm chung của xã hội, người đồng tính xem như là thành phần khác biệt với phần đông những người còn lại nên không tránh khỏi sự tò mò, soi mói thậm chí có các hành vi tiêu cực như xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của họ. Xét về quyền riêng tư, về cơ bản, trên phương diện pháp luật người đồng tính được đảm bảo bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm.

Tuy nhiên, trên thực tế, quyền riêng tư bị xâm phạm khá phổ biến đặc biệt đối với người đồng tính. Những tin đồn về xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới về người đồng tính thường có áp lực hơn so với người dị tính, dễ khiến họ rơi vào trạng thái khó xử, khủng hoảng tâm lý.2 Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật Quyền con người trong pháp luật là việc ghi nhận các quyền tự nhiên của con người trong một cơ chế rõ ràng, minh bạch và được bảo đảm bởi quyền lực Nhà nước. Quyền con người trong pháp luật không chỉ giới hạn trong phạm vi từng quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế thông qua các điều ước ước quốc tế và các tuyên ngôn về nhân quyền. Trong phạm vi quốc gia, quyền con người được thể chế hoá và bảo vệ đầu tiên qua hiến pháp.

Các quy định trong hiến pháp ghi nhận các quyền tự do của con người, tạo ra các giới hạn pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước nhằm bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền cơ bản của con người [14]. Hiến pháp Hoa Kỳ là một ví dụ tiêu biểu trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Với vấn đề đồng 18 tính, Toà án Hoa Kỳ đã có những phán quyết quan trọng dựa trên các quy định của Hiến pháp. Theo đó, luật pháp Hoa Kỳ đã sử dụng các quyền con người để thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi của người đồng tính, Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 có những sửa đổi, bổ sung đã kế thừa tinh thần về quyền con người của Hiến pháp 1992 và có những phát triển quan trọng về quyền con người, các quyền chính trị dân sự kinh tế, văn hoá xã hội cho công dân Việt Nam.

Người LGBT là công dân của xã hội nên cũng có quyền được hưởng những quyền đó. Tuy nhiên, việc kết hôn giữa những đồng tính không được thừa nhận trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong luật quốc tế, Văn phòng Cao uỷ nhân quyền Liên hợp quốc định nghĩa là: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người. Chủ thể được thừa hưởng quyền con người theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc là: tất cả mọi người “không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ uỷ trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế”.

Trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 cũng đề cập đến quyền tự do cơ bản của con người, đó là: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới”. Và dĩ nhiên, người LGBT cũng là một trong những phần tử đó. Như vậy, việc bảo vệ quyền cho người LGBT nói chung và bảo vệ 19 quyền của người đồng tính nói riêng chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ