Khóa luận tốt nghiệp: bảo đảm quyền tự do lập hội theo hiến pháp 2013

Đề tài tốt nghiệp về Bảo đảm quyền tự do lập hội theo hiến pháp 2013 điều tra thực trạng, đề xuất biện pháp cải thiện trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

64
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của quyền tự do lập hội

Quyền tự do lập hội là một quyền con người cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế và Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam. Quyền này được lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 20 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948, quy định rõ "mọi người có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình". Sau đó, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966 đã tái khẳng định và cụ thể hóa quyền này tại Điều 22. Tầm quan trọng của quyền tự do lập hội nằm ở việc nó là chuẩn mực bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đồng thời góp phần bảo đảm thực hiện các quyền con người khác trong một xã hội dân chủ.

1.1. Định nghĩa quyền tự do lập hội

Quyền tự do lập hội là quyền được lập hội, gia nhập hội và tham gia các hoạt động của hội một cách tự nguyện. Hội là tổ chức được thành lập bởi những người có chung mục tiêu, lợi ích hoặc mục đích hợp pháp. Quyền này bao gồm tự do lập hội, tự do gia nhập hộitự do không bị ép buộc tham gia vào bất cứ hiệp hội nào. Theo Khoản 2 Điều 20 UDHR: "không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào".

1.2. Vai trò trong xã hội dân chủ

Quyền tự do lập hội đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển xã hội dân chủ. Nó cho phép người dân tổ chức, hoạt động tập thể để bảo vệ lợi ích của mìnhtham gia vào quản lý xã hội. Các hội phát triển đa dạng với quy mô, phạm vi khác nhau đã góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, thỏa mãn nhu cầu tự do, dân chủ và sáng tạo của người dân.

II. Quyền tự do lập hội trong Hiến pháp 2013 của Việt Nam

Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã ghi nhận quyền tự do lập hội là một quyền hiến định của công dân. Đây là sự tiến bộ quan trọng trong việc bảo vệ các quyền con người cơ bản ở Việt Nam. Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều Công ước quốc tế về nhân quyền, bao gồm ICCPR từ năm 1982, cho thấy cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả quyền tự do lập hội, Việt Nam cần phải hoàn thiện khung pháp lý, cập nhật các quy định pháp luật sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế và đảm bảo bảo vệ quyền của công dân một cách toàn diện.

2.1. Chủ thể và tư cách pháp nhân của hội

Chủ thể của quyền tự do lập hộicông dân Việt Nam. Những người có chung mục tiêu hợp pháp có quyền lập hội và gia nhập hội. Hội được cấp tư cách pháp nhân sau khi đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước, cho phép hội có năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng, sở hữu tài sản và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý độc lập.

2.2. Hình thức và phạm vi hoạt động của hội

Hội có thể hoạt động với phạm vi toàn quốc hoặc địa phương. Tính đến tháng 12/2014, Việt Nam có 52.565 hội, trong đó 483 hội hoạt động cấp quốc gia và 52.082 hội hoạt động cấp địa phương. Các hội phát triển đa dạng về loại hình, từ hội chuyên môn, hội lợi ích công cộng đến hội nghề nghiệp, phục vụ nhu cầu liên kết, hợp tác của người dân.

III. Nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do lập hội

Nhà nước Việt Namba nghĩa vụ chính trong việc bảo đảm quyền tự do lập hội của công dân. Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng quyền này bằng cách không can thiệp vào quyền của công dân lập hội và hoạt động hội một cách tùy tiện. Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ quyền tự do lập hội khỏi các hành vi xâm phạm của bên thứ ba, bao gồm cả những hành vi từ chối, ngăn cản không có căn cứ pháp luật. Thứ ba, nghĩa vụ thực thi các biện pháp tích cực để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền này. Những nghĩa vụ này được qui định rõ ràng nhưng việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục.

3.1. Các cơ chế bảo vệ quyền trong lao động

Trong lĩnh vực lao động, quyền tự do lập hội được thể hiện qua quyền thành lập công đoànquyền tham gia công đoàn. Công đoàn là hội đại diện lợi ích của người lao động, có quyền đàm phán tập thể với nhà sử dụng lao động. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn những trường hợp người lao động bị ngăn cản trong việc lập công đoàn hoặc tham gia hoạt động công đoàn.

3.2. Bảo vệ quyền trong lĩnh vực hình sự

Bộ Luật Hình sựBộ Luật Tố tụng Hình sự cần có chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi từ chối, ngăn cản quyền tự do lập hội. Hiện nay, việc bảo vệ quyền này trong tố tụng hình sự vẫn còn chưa đầy đủ, cần sửa đổi, bổ sung để đảm bảo hình phạt phù hợp với mức độ vi phạm.

IV. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tự do lập hội

Để bảo đảm hiệu quả quyền tự do lập hội, Việt Nam cần thực hiện một số cải cách pháp luật quan trọng. Thứ nhất, ban hành Luật về Hội riêng để thay thế các quy định rải rác hiện nay, tạo khung pháp lý thống nhấtrõ ràng. Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính để có chế tài cụ thể với những hành vi vi phạm quyền tự do lập hội. Thứ ba, đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật và tuân thủ thông lệ quốc tế. Những cải cách này sẽ giúp Việt Nam thực thi cam kết quốc tếbảo vệ quyền con người một cách toàn diện.

4.1. Cần thiết ban hành Luật về Hội

Luật về Hộicần thiết lâu đời nhằm thay thế hệ thống các quy định rải rác hiện nay, tạo pháp lý thống nhất. Luật sẽ quy định rõ ràng về điều kiện thành lập hội, quyền, nghĩa vụ của hội, quyền, nghĩa vụ của thành viênquản lý nhà nước đối với hội. Điều này sẽ giúp công dân hiểu rõ quyền lợi của mình và giảm thiểu tranh chấp trong thực tế.

4.2. Sửa đổi các bộ luật liên quan

Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Hình sựLuật xử lý vi phạm hành chính cần bổ sung chế tài cụ thể đối với những hành vi từ chối, ngăn cản quyền tự do lập hội. Các quy định này phải rõ ràng, cụ thể để ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạmbảo vệ quyền của công dân một cách thực sự.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1. Khái niệm “hội” và “quyền tự do lập hội” Hội đã xuất hiện trên thế giới từ thuở xa xưa, dưới nhiều hình thức đa dạng. “Ngay từ thời cổ đại, ở phương Tây, Plato đã mô tả “câu lạc bộ” là những nơi thị dân Hy Lạp lui tới để thưởng thức nghệ thuật, nghe giảng về thiên văn học và khoa học” [1]. Cùng với thời gian, các hình thức hiệp hội trên thế giới ngày càng phát triển, bao gồm các hội không có hoặc có tư cách pháp nhân, với các tên gọi như câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn giáo, chính đảng hoặc công ty.Vậy “hội” là gì? Hiện nay, có nhiều định nghĩa về “hội”.

“Trong tiếng Anh, “hội” thường được thể hiện qua hai thuật ngữ đó là: (i) “Association” – chỉ hình thức liên kết của các cá nhân có cùng mối quan tâm, và (ii) “Society” – chỉ một cộng đồng có tổ chức” [2]. “Cả hai khái niệm này đều có từ gốc Latinh là socius/socielis, hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa con người với nhau trong đời sống” [3]. Công ước ICCPR và các văn kiện quốc tế quy định về quyền tự do lập hội nhưng không định nghĩa khái niệm hội. Tuy nhiên, khái niệm này được định nghĩa trong một số báo cáo của LHQ.

Như theo Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký LHQ về bảo vệ quyền con người, khái niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung [4]. Nguyễn Đăng Dung thì “hội” là sự thỏa thuận, liên kết, tập hợp, quy tụ của nhiều người với nhau thành nhóm để hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung [5]. 9 Rõ ràng, các quan điểm trên đều có định nghĩa tương đồng về “hội”, thừa nhận “hội” là một khái niệm có ngoại diên rộng nên quyền tự do lập hội là một vấn đề phức tạp. Hơn nữa từ góc độ luật nhân quyền, quyền tự do lập hội cũng là quyền có bản chất, nội dung đa dạng.

Lập hội vừa là quyền dân sự, chính trị và cũng vừa là quyền kinh tế xã hội, phụ thuộc rất lớn vào loại hình hội mà cá nhân, tổ chức lựa chọn thành lập, gia nhập. Sự phức tạp và đa dạng nêu trên dẫn đến hệ quả là đối với những hội khác nhau thì việc giải thích, áp dụng và thực thi quyền tự do lập hội cũng có những yêu cầu khác nhau. Theo quan điểm của LHQ: Quyền tự do lập hội (freedom of association) bao gồm quyền thành lập và tham gia hội, quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý, quyền tiếp cận nguồn quỹ và các nguồn lực, và quyền tham gia vào việc tiến hành các hoạt động chung của xã hội [6]. Hay nói cách khác, quyền lập hội xuất phát từ những nhu cầu tự nhiên của con người, đó là được quy tụ, được tập trung trong một tổ chức với những mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ với những thành viên khác trong cộng đồng.

Đây là quan điểm chung, tiến bộ được các quốc gia và vùng lãnh thổ thừa nhận. Vai trò của quyền tự do lập hội Tự do lập hội là cần thiết trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Quyền tự do lập hội có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy một loạt các quyền con người khác. Thông qua quyền tự do lập hội, các cá nhân liên kết lại cùng nhau bảo vệ quyền sống, quyền an toàn thân thể, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…Trong lĩnh vực lao động, việc thành lập công đoàn góp giúp bảo vệ các quyền cơ bản của công nhân về tiền lương, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, an toàn lao động…Trong lĩnh vực chính trị, quyền tự do lập hội cũng có vai trò rất thiết yếu đối với việc thực hiện hóa quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước.

Đối với các nhóm dễ bị tổn thương, 10 quyền tự do lập hội càng có vai trò quan trọng để chống lại sự phân biệt, kỳ thị cũng như để bảo vệ các quyền khác khi mà tiếng nói của các cá nhân thuộc nhóm này rất dễ bị xã hội và nhà nước bỏ qua. Ngoài ra, thực hiện quyền tự do lập hội, các cá nhân liên kết với nhau, hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động thương mại, dịch vụ. Trong báo cáo năm 2013, Báo cáo viên đặc biệt Maina Kiai đã khẳng định rằng, quyền tự do lập hội trao quyền cho tất cả mọi người được thể hiện quan điểm chính trị, tham gia vào các hoạt động văn hóa, kinh tế và xã hội, tham gia vào các nghi lễ tôn giáo hoặc các niềm tin khác, và bầu lãnh đạo để đại diện cho lợi ích của họ và tăng trách nhiệm giải trình. Sự phụ thuộc và liên quan lẫn nhau giữa các quyền làm cho quyền tự do lập hội trở thành một trong những khía cạnh quan trọng để đánh giá sự tôn trọng của nhà nước với những quyền con người khác [7].

Rõ ràng, quyền tự do lập hội không chỉ là một quyền con người cơ bản mà còn là một công cụ hỗ trợ để bảo vệ các quyền khác 1. Các quy định của pháp luật quốc tế về quyền tự do lập hội Điều ước quốc tế về nhân quyền là hình thức cơ bản chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế về quyền con người, điều chỉnh nghĩa vụ các quốc gia thành viên và sự hợp tác giữa chúng nhằm hướng tới sự đảm bảo cao nhất các chuẩn mực quyền con người được thừa nhận chung. Tự do lập hội được xác định là một quyền tự do cơ bản và được nêu trong tất cả các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực, trong đó đặc biệt quan trọng là Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR) năm 1948 và Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966. Đây là những cơ sở pháp lý rõ ràng nhất ràng buộc các quốc gia thành viên phải có trách nhiệm thực thi bảo đảm các quyền được đề cập trong công ước nói chung và đối với quyền tự do lập hội nói riêng.

11 Điều 20 UDHR ghi nhận: “1. Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình; 2. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào” ICCPR đã cụ thể hóa quy định về quyền tự do lập hội tại Khoản 1 Điều 22: “Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình” Cả UDHR và ICCPR đều dùng từ “mọi người”, điều này có nghĩa là chủ thể của quyền tự do lập hội không bị giới hạn ở công dân, mà còn bao gồm cả người nước ngoài và người không có quốc tịch đang sinh sống hợp pháp ở một quốc gia. Cách hiểu này tương thích với quy định của Điều 2 ICCPR về không phân biệt đối xử và được khẳng định trong các Nghị quyết 15/21, 21/16, 24/5, 20/27, 26/29 của Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Đồng thời, để bảo đảm quyền tự do lập hội, tại Điều 30 UDHR quy định: “Không được diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong bản Tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hoặc cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hoạt động hoặc thực hiện bất cứ hành vi nào nhằm mục đích phá hoại bất kỳ quyền hoặc tự do nào nêu trong bản Tuyên ngôn này” Điều 5 ICCPR cũng tái khẳng định: “Không được phép giải thích bất kỳ một quy định nào của Công ước này để qua đó có hàm ý tạo cho một quốc gia, một nhóm người hoặc một cá nhân có được một quyền nào đó để tiến hành những công việc hoặc hành động nhằm mục đích hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá mức độ quy định trong Công ước” Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ hiện chưa có bình luận chung nào về nội dung Điều 22 ICCPR, tuy nhiên, từ nội dung của nó, có thể thấy quyền tự do lập hội bao gồm ba khía cạnh: i) thành lập ra hội mới; ii) gia nhập các 12 hội có sẵn; iii) hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động [8]. - Về quyền thành lập và gia nhập hội: Trong các nội dung của quyền tự do lập hội, quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ yếu của quyền tự do lập hội. Mọi người đều có quyền này. Trên cơ sở quy định của công ước ICCPR, quyền tự do lập hội của mọi người được bảo đảm ở các quốc gia theo hai thủ tục: thông báo hoặc cấp phép.

Cùng với quyền thành lập hội, các cá nhân có quyền gia nhập và rút lui các hội; các hội có quyền ngưng hoạt động và tự giải tán. Tuy nhiên, việc các cơ quan nhà nước ngưng hoạt động và giải tán hội phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của luật. - Về quyền tự do hoạt động, điều hành các hội và được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô lý: Quyền tự do lập hội được giải thích là quyền hoạt động tự do của các hội, và điều này xác định các nghĩa vụ của nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền này. Theo cách tiếp cận chung của luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia có ba nghĩa vụ gắn với việc bảo đảm quyền con người.

Đối với việc bảo đảm quyền tự do lập hội cũng không ngoại lệ, nhà nước cũng có các nghĩa vụ sau: - Nghĩa vụ tôn trọng: Tôn trọng đời sống nội bộ của hội, hay nói cách khác không được can thiệp tùy tiện vào công việc nội bộ và phải tôn trọng quyền riêng tư của hội như đã quy định tại Điều 17 ICCPR. Cụ thể, các nhà nước không được tùy tiện đặt điều kiện cho những quyết định và hoạt động của hội; đảo ngược kết quả bầu cử thành viên ban lãnh đạo; bắt buộc trong ban lãnh đạo của các hội phải có sự hiện diện của đại diện Chính phủ; yêu cầu các hội nộp báo cáo trước khi xuất bản ấn phẩm hoặc nộp kế 13 hoạch hoạt động để thông qua trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ