Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tổng quan về điều kiện khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Bến Tre 1. Vị trí đị lý Bến Tre nằm ở phía Đông vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 2.356,85 km2, chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL.
Về tọa độ địa lý, tỉnh Bến Tre nằm trong giới han từ 9°48' đến 10920' vĩ độ Bắc và từ 106°48' đến 105957! kinh độ Đông. Bến Tre có ranh giới hành chính như sau: - Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang. - Phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vĩnh. - Phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài trên 65 km.
106°0'0"E 106°10'0"E 106°20°0"E 106°30'0°E 106°40'0“E 10°2'0"N Tiền Giang 10° '0"N 10° '0"N 20 Km Toàn tỉnh được chia thành 09 đơn vị hành chính, bao gồm 1 Thành phố Bến Tre, cách thành phô Hồ Chí Minh 85 km về phía Tây Bắc, là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh và 8 huyện: Bình Đại, Ba Tri, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và huyện Thạnh Phú (Báo cáo UBND tỉnh Bến Tre, 2012). Đặc điểm địa hình Địa hình tỉnh Bến Tre tương đối bằng phẳng, cao độ bình quân 1-2 m, có khuynh hướng thấp dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng ra phía biển Đông. Bốn bề tỉnh Bến Tre là sông nước bao bọc, bên trong có hệ thống sông rạch chang chit làm cho địa hình bi chia cắt mạnh. Tinh Bến Tre có hình dáng như tam giác cân, có đỉnh nằm ở phía thượng nguồn các con sông, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông.
Các con sông lớn: sông Mỹ Tho (sông Tiền Giang), sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên như các nan quạt xòe rộng ra biển Đông, chia địa hình của tỉnh ra lam 3 cù lao lớn: cù lao Minh, cù lao Bao và cù lao An Hóa. Cục bộ địa hình có những cồn cát phân bố thành tuyến, hình cánh cung, nằm ở ven biển. Các giồng cát cao hơn địa hình xung quanh từ 1-5m. Rai rác có những cồn cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn.
Địa hình tỉnh Bến Tre được chia ra làm 3 dang địa hình: - Vùng địa hình thấp có độ cao đưới Im: bị ngập nước khi triều lên, bao gồm một số đất ruộng ở lòng chảo xa sông, các bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh. - Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1-2 m: là vùng đất ngập trung bình hoặc ít ngập theo triều, chi bị ngập khi triều cường vào tháng 9-12, đã được người dân lên liếp làm vườn, đắp bờ sản xuất lúa. chiếm khoảng 87,5% diện tích. - Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2-3,5 m, có nơi cao trên 5m (chiếm ching 7% tông diện tích): bao gồm các dai đất cao ven các con sông lớn từ Chợ Lach đến Châu Thanh và phía Bắc — Tây Bắc của Thành phố Bến Tre: các giồng cát tại khu vực ven biển, chiếm 5,8% diện tích tự nhiên toàn tinh.
Đường bờ biển có khuynh hướng bồi thêm theo hướng Đông - Đông Nam tại các cửa sông Ba Lai và Cổ Chiên do tác động tổng hợp giữa các dòng hải lưu ven bờ và phù sa sông đồ ra biển. Tốc độ bình quân lắn biển hàng năm là 9,25 km’. Chính vì những điều kiện địa hình và hệ thong sông rạch như trên đã tạo cho Bến Tre một chế độ thời tiết khí hậu và thủy hải văn có nét hơi khác biệt so với các tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm khí hậu Tỉnh Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, hàng năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) với gió mùa Tây Nam và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) với hoàn lưu gió Đông khống chế.
Do nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa kết hợp với điều kiện địa hình và mặt đệm là những vườn dừa, vườn cây rộng lớn và những cánh đồng đan xen tạo cho Bến Tre có sự tương đối đồng nhất về khí hậu, không có sự phân hóa mạnh mẽ theo không gian giữa các huyện, giữa các vùng ven biển và các huyện xa biển. Mua Mùa mua chịu sự chi phối chung của hoàn lưu gió mùa ở khu vực gió mùa châu Á. Mùa mưa chính thức bắt đầu vào trung tuần tháng 5 và chấm dứt vào tháng 11. Giai đoạn có mưa chuyển mùa thường từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5, đôi khi giai đoạn này không rõ rệt mà chi có vai trận mưa rao báo hiệu chính thức bước vào mùa mưa.
Lượng mưa trung bình thấp, từ 1. Lượng mưa cả năm (2005) là 1.695,5 mm, phân bố không nhiều trong năm. Trong đó, lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 90 — 95% lượng mưa của cả năm. Lượng mưa tập trung lớn nhất trong năm chủ yếu ở các tháng 7 (299,2 mm), tháng 8 (216,0 mm), tháng 9 (209,4 mm) và tháng 10 có lượng mưa lớn nhất trong năm (366,2 mm), ở những tháng này lượng mưa chiếm 90 — 95% lượng mưa ca năm.
Lượng mưa phô biến là mưa rào kèm theo các cơn giông nhỏ. Trường hợp có mưa giông lớn thường xảy ra trong mùa có gió Tây Nam. Sự phân bố mưa trong tỉnh có thể chia làm 3 khu vực: - Vùng ven biển có lượng mua năm xấp xi trên 1. - Vùng giữa tỉnh có lượng mưa năm từ 1.
- Vùng trên có lượng mưa năm < 1. Trong đầu mùa mưa (tháng 6) sự phân bố mưa cũng tương tự. Tháng mưa nhiều nhất (tháng 10) cũng có sự phân bố khá tương tự. Tuy nhiên lượng mưa cao nhất chỉ tập trung ở khu vực giữa sông Ba Lai và Hàm Luông.
Thời kỳ it mua trong mùa mua: trong mùa mưa thường xảy ra các đợt giảm mưa kéo đài 3 — 5 ngày và có nơi còn kéo dai hơn nữa, đến hơn 10 ngày gây tình hình khô hạn và trùng vào giai đoạn nang nóng nên gây khó khăn không it cho sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những khu vực nào phụ thuộc nhiều vào nước mưa. Thời kỳ ít mưa này (dân gian còn gọi là hạn Ba Chan) xảy ra tập trung vào giai đoạn trung tuần tháng 7 và ngay trong tháng 6 sau vai đợt mưa tập trung lại xảy ra tình hình giảm mưa kéo dai hon. Những vùng giữa tỉnh là nơi xảy ra nhiều đợt hạn kéo dài nhất, có nơi trên 20 ngày (Báo cáo UBND tỉnh Bến Tre, 2012). Gió Tại Bến Tre, tương ứng với 2 mùa trong năm thì cũng có 2 mùa gió: Gió Đông và Đông Nam chủ đạo trong mùa khô.
Gió Tây và Tây Nam là hướng gió trong mùa mưa. Sức gió mạnh nhất Vmax = 24 m/s. Ngoài 2 hướng gió chính, còn xuất hiện gió chướng, thôi theo hướng Đông — Đông Bắc thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Chúng là nguyên nhân gây ra tác hại: làm dâng mực nước biên, mặn xâm nhập sâu hơn vào nội địa.
Tốc độ gió chướng thường thấp < 3m/s và thường lớn nhất vào lúc 13 giờ trong ngày. é Nang Tổng số giờ nang trong năm là 2. Trong mùa khô, nắng trung bình khoảng 8 — 9 giờ/ngày với tổng số giờ nắng bình quân 240 — 260 giờ/tháng. Mùa mưa nang ít hơn, bình quân 5,5 — 6,5 giờ/ngày tương đương với 170 — 190 giờ/tháng.
Nhiệt độ Nhiệt độ bình quân trong năm không có sự biến động cao, nhiệt độ bình quân giữa tháng nóng nhất và tháng ít nóng nhất chênh nhau khoảng 3 — 4°C. Nhiệt độ trung bình cả năm là 27,02°C (năm 2005). Thời kỳ xảy ra nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4 — 5. Nhiệt độ tối cao trung bình cũng có sự hơi khác ở vùng ven biển và vùng xa bên trên (huyện Ba Tri và Thành phó Bến Tre) là ở vùng ven biển nhiệt độ dưới 30°C trong các tháng từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, các tháng 3— 5 nền nhiệt độ thấp hơn 33°C.
Thời kỳ ít nóng nhất trong năm là từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình thang dao động từ 24,70 — 27,02°C. Ở vùng ven biển do chịu ảnh hưởng của sự điều hòa khí hậu của vùng biển nên nền nhiệt độ tối thấp nhất trung bình từ 23°C trở lên còn ở vùng xa bên trên thì nhiệt độ tối thấp nhất trong năm là vào tháng 12 và tháng 1. Đôi khi do sự hoạt động mạnh của áp cao lục địa cực đới nên những đợt không khí lạnh bỗ sung mạnh về phía Nam trong tháng 3 cũng xảy ra nhiệt độ thấp nhất. Độ ẩm không khí Độ ẩm tương đối của không khí có liên quan đến nhiệt độ không khí va lượng mưa.
Do ở gần cửa biển, Bến Tre có độ âm khá cao. Tháng có độ âm cao nhất từ 87 — 88% vào mùa mưa (tháng 8, 9, 10). Tháng có độ ẩm thấp nhất là vào mùa khô (tháng 3, 4), độ âm từ 78 — 79%. # Độ bốc hơi Mùa khô nang nhiều, độ 4m không khí thấp nên lượng bốc hơi cao 3,6 — 5,5 mm/ngày.
Trong đó tháng bốc hơi mạnh nhất là tháng 2 khoảng 5,5 mm/ngày. Sang mùa mưa, độ bốc hơi giảm đi rõ rệt, còn 2,2 — 3,2 mm. Trong đó, tháng 9 có độ bốc hơi nhỏ nhất 2,2 mm/ngay. Đặc điểm về sông ngòi - chế độ thủy văn Thủy triều biển Bến Tre tương đối lớn, xấp xi với thủy triều vịnh Bắc Bộ và lớn hơn thủy triều ở bán đảo Cà Mau khoảng 2 lần.
Biên độ triều ngoài biển có thể lên trên 4 m, khi truyền vao trong sông biên độ triều giảm dần, đến vùng thượng lưu tỉnh tại Chợ Lách biên độ triều lớn nhất trong năm giảm chỉ còn ở mức trung bình khoảng 2,6 m. Thời gian triều lên dai nhất có thể đến 6 giờ, bình thường thi từ 4 — 5 giờ, thời gian triều xuống dài nhất 9 - 10 giờ, song bình thường chi từ 6 — 8 giờ. Một chu kỳ triều nửa tháng bắt đầu là 1 - 2 ngày triều kém. Thời kỳ triều cường thường xuất hiện vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch.
Chu kì triều một năm thường lớn nhất vào tháng 11 va 12 dương lịch và nhỏ nhất tháng 5 và 6 đương lịch. Mực nước lớn nhất năm thường xuất hiện vào tháng 10, 11, 12. Mực nước thấp nhất năm thường xuất hiện vào các tháng 6, 7.