Chương 1 TỎNG QUAN 1. Bệnh héo xanh trên cây cây họ cà 1. Tình hình bệnh héo xanh trên cây họ cà ở vùng trồng phía Nam Họ Cà (Solanaceae) gồm cây thảo, bụi leo hay cây gỗ nhỏ cao 0,5 - 7m có gai, có lông hay nhẫn, đôi khi có nhựa, thuộc nhóm thực vật có hoa. Theo Vũ Văn Hợp (2006), ở Việt Nam họ cà đã được phát triển và định danh bao gồm 15 chi với 61 loài phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam với nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Cây họ cà không những có giá trị dinh dưỡng, kinh tế mà còn mang lại giá trị văn hóa, âm thực truyền thống của người Việt Nam: bao gồm nhiều loài được dùng làm thực phẩm, cây cảnh, làm thuốc. Tại Việt Nam ngành rau quả là một trong những nguồn thu nhập chính của nhiều nông dân trong vùng và có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu của nông nghiệp Việt Nam. Một trong những loại rau được khuyến khích trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây theo chương trình này là cây ớt - do nhu cầu xuất khâu cao và là một trong những loại cây trồng họ cà phổ biến bên cạnh khoai tây và cà chua. Tuy nhiên, nông dân trồng ớt nói riêng và cây họ cà nói chung phải đối mặt với nhiều khó khăn liên quan đến bệnh hại như: héo rũ gốc mốc trắng do nam Sclerotium rolfsii, héo rũ thối den do Phytophthora capsici, bệnh than thư ớt do nhiều loài nam thuộc chỉ Colletotrichum và đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn do R.
solanacearum gây ra. Tại các khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể là huyện Chợ Mới và An Phú tỉnh An Giang, huyện Châu Thành và Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang. bệnh héo xanh gây thiệt hại nặng nề và đang là một trong những vấn đề nan giải đối với người nông dân (Võ Thị Bích Thủy, 2016). Ww Bệnh phát sinh phát triển trong các vùng trồng ớt nhiệt đới.
Đất trồng có nhiều tàn dư bệnh vụ trước, đất ít mùn và trũng thấp, trồng cây mật độ cao, bón dư đạm,. Vi khuân chủ yếu tồn tại trong dat, tàn dư cây bệnh và có thé trở thành nguồn bệnh cho vụ sau. Bệnh gây hại mạnh trong điều kiện nóng ẩm, nhất là khi gap nang mưa xen kẽ. Nguồn bệnh vi khuẩn có thé sống trong đất 5 - 6 năm, còn trên cây ký chủ và trong hạt giống là 7 thang.
Bệnh có thê xuất hiện và phát sinh từ khi cây còn nhỏ đến khi cây thu hoạch, tuy nhiên phát triển mạnh vào giai đoạn cây ra hoa. Bệnh héo xanh thường thê hiện triệu chứng ngay sau khi vi khuân xâm nhập vào rễ hoặc phan thân sát mặt đất. Ở cây bị bệnh ban ngày lá cây mat màu nhẫn bóng, tái xanh héo cup xuống, về ban đêm có thể hồi phục lại. Sau 2-3 ngày lá cây bị bệnh không thé hồi phục được nữa, các lá gốc tiếp tục héo rũ và toàn cây bị héo rũ làm chết cây, cắt ngang thân thấy bó mạch dẫn hóa nâu hoặc nâu đen, nhúng đoạn thân vào cốc nước sạch sẽ thấy dịch vi khuẩn chảy ra màu trắng sữa (đây là đặc điểm dé phân biệt bệnh do vi khuẩn và các đối tượng gây hại khác).
Trong điều kiện âm độ cao, thân cây bệnh dan thối mềm, gay gục. solanacearum GIỚI: Bacteria Ngành: Pseudomonadota Lớp: Betaproteobacteria Bộ: Burkholderiales Chi: Ralstonia Loai: Ralstonia solanacearum Vi khuẩn R. solanacearum có dang hình que, hai dau hoi tròn, gram âm, thường ở dang don hoặc ghép đôi, ít khi ghép thành chuỗi. Kích thước tế bao 0,5 - 0,7 x 1,5 - 2,0 um (Stevention và ctv, 2001).
Các mẫu vi khuẩn phân lập có độc tính cao phan lớn không có lông roi và không di động, ngược lại những mau vi khuẩn có độc tính thấp thường có từ 1 đến 4 lông roi mọc đối nhau, có mức di động cao và đều có các lông roi nhỏ ở ria (Mehan ctv, 1994; Anitha ctv, 2003). Dé phát hiện dong vi khuẩn có tinh độc thông thường sử dụng môi trường chọn lọc TZC, trên môi trường phân lập này vi khuân có tính độc sẽ có khuân lạc ở giữa màu hông, rìa trắng. Nếu mẫu vi khuẩn chuyền sang kiểu khuẩn lạc nâu, nhăn nheo là những vi khuẩn mat tính độc (nhược độc) (Vũ Triệu Man, 2007), đặc tính gây bệnh của vi khuẩn R. solanacearum được quyết định bởi hệ gen độc Arp (hypersensitive response and pathogenicity).
Cau trúc của tế bào vi khuẩn R. solanacearum gồm có: vỏ tế bào chiếm 15 - 30% trọng lượng khô của tế bào có tác dụng bảo vệ và giữ cho vi khuẩn có hình dạng xác định. Tế bào gồm chất nguyên sinh chứa bào tương, chất nhân (nucleus) và các hạt tròn nhỏ khác nhau chứa chất dinh dưỡng dự trữ. Vi khuẩn này có phạm vi ký chủ rộng bao gồm các cây thân gỗ (cà chua, khoai tây, thuốc lá, cà tím), một số cây họ đậu (như lạc, đậu Pháp), một vài cây một lá mam (chủ yếu là chuối, sừng) và một số cây bụi (dâu tam, 6 liu, sắn).
Phương thức xâm nhập của R. solanacearum khác với hầu hết các vi khuẩn gây bệnh: lây nhiễm sang cây qua các vết thương ở rễ hoặc tại các vị trí của rễ phụ. Các khoảng không gian bào của vỏ rễ và các nhu mô mạch trở thành nơi khu trú của chúng và gây phá vỡ thành tế bào, tạo điều kiện cho sự lây lan qua hệ thống các mạch dẫn trong cây (Vasse và ctv, 1995). Trong mạch xylem, quan thé vi khuẩn nhanh chóng đạt đến mức rất cao, đồng thời với hiện tượng héo và chết cây.
Sau đó vi khuẩn quay trở lại đất, sống như một sinh vật hoại sinh cho đến khi lây nhiễm sang cây ký chủ mới. Bệnh có thể xảy ra trong hầu hết các giai đoạn sinh trưởng của cây, tuy nhiên thường gặp ở giai đoạn ra hoa kết trái. Triệu chứng bệnh héo xanh xảy ra bao gồm: nhiều rễ phụ khí sinh mọc ra dọc trên thân, rễ và thân thối mềm, các cây xanh tươi bị héo đột ngột vào ban ngày, nhất là giai đoạn chiều. Vào ban đêm và đầu budi sáng cây xanh lại nếu bệnh đang còn nhẹ, nhưng cây sẽ chết héo khi đã bị nặng.
Bệnh có thể gây chết cây từng chùm và lan rộng nếu không có biện pháp phòng trừ kịp thời và đúng cách. Một số biện pháp quản lý có hiệu quả cao được áp dụng phô biến, vệ sinh tàn dư cây vụ trước, khi bệnh nặng nên tiến hành luân canh với cây trồng khác. Nếu vườn thường bị hại, cần xử lý đất trước khi trồng đối với các đối tượng hại rễ; lên luống cao dé đất và vườn được thông thoáng, không nén chặt đất khi trồng cây, vi đất dé bị bí và yếm khí sau khi trồng: bón lót phân chuồng dé đất được tơi xốp, bón phân cân đối và đầy đủ, tránh dư đạm để cây khỏe mạnh và kháng được bệnh; sử dụng giống kháng bệnh và cây giống khỏe ở cơ sở tin cậy dé hạn chế bệnh; trồng với mật độ thích hợp, tránh rậm rạp dé vườn thông thoáng; khi chăm sóc, tránh làm xây xát và làm đứt rễ; tưới tiêu nước thật tốt, hạn chế để vườn quá âm, hay quá khô. Không dé chế độ nước thay đổi đột ngột dé làm đứt rễ; Khi phát hiện có cây bị bệnh, cần nhé đem tiêu hủy nhằm tránh lây lan.
Vị tri phân loại, sự phân bố và vai trò của xạ khuẩn trong tự nhiên GIới: Bacteria Ngành: Actinomycetote Lop: Actinomycetia Bộ: Streptomycetales Ho: Streptomycetales Chi: Streptomyces Trong số khoảng 1.000 loài sinh vật nhân sơ đã công bố có khoảng 100 chi và 1.000 loài xạ khuẩn (Das và ctv, 2008). Xa khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên và có thé tim thấy ở hầu hết các môi trường như đất, nước, không khí và các chất hữu cơ. Số lượng xạ khuẩn trong đất không chỉ phụ thuộc vào loại đất mà còn phụ thuộc vào mức độ canh tác của đất và khả năng bao phủ của thực vật. Đất giàu dinh dưỡng và lớp đất bề mặt thường có số lượng lớn xạ khuẩn.
Xạ khuẩn cũng thường sống hoại sinh trên xác các sinh vật (cây chết, rơm rạ) nhưng cũng có thé ký sinh trên thân, củ hoặc rễ cây. Năm 2015, Kunasakdakul đã phan lập được 36 chủng xạ khuẩn nội sinh từ rễ, thân, lá và quả của cây rau má có hiệu quả ức chế nam Alternaria brassicicola gây bệnh đốm lá trên bắp cải. Xạ khuẩn biển thường được phân lập từ cát biển, đất ngập mặn, trầm tích biên ở các độ sâu khác nhau hoặc ở trên các sinh vật khác như san hô, rong biên. Xa khuẩn biển thường có khả năng chịu mặn cao, đặc biệt có những chủng Streptomyces sp.
có thé sinh trưởng được ở nồng độ NaCl 16% và nhiều loài thuộc chi Streptomyces Nocardia sinh trưởng tốt khi ở nồng độ NaCl 10% (Hồ Văn Hoàn, 2013). Năm 2011, Li và ctv đã phân lập được chủng xa khuẩn Pseudonocardia Sp. SCSIO 01299 từ Biển Đông Việt Nam ở độ sâu 3.258 m có khả năng kháng các tế bào ung thư và kháng khuẩn. Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất của xạ khuẩn là khả năng tong hợp chất khang sinh (CKS).
Khoảng 80% CKS được san xuất trên thế giới có nguồn sốc từ xạ khuẩn, đặc biệt trong lĩnh vực y học phải kế đến là kháng sinh streptomycin, neomycin, tetracyclin, gentamycin. Ngoài ra, xạ khuẩn cũng đóng vai trò quan trọng về mặt sinh thái trong vòng tuần hoàn tự nhiên. Chúng phân hủy và sử dụng các chất hữu cơ khó phân hủy như humic acid (Zhang và ctv, 2007), góp phan hình thành và tạo ra độ phì nhiêu cho đất. Trong quá trình trao đôi chất, xạ khuẩn có thé sinh ra các chất hữu cơ như các vitamin nhóm B (BI, B2, B6, B12), acid hữu cơ như acid lactic, acid acetic và nhiều acid amin như acid glutamic, tryptophan,.
Một số khác còn có khả năng sinh nhiều loại enzyme như protease, amylase, chitinase,. và các chất kích thích sinh trưởng thực vật. Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn Xạ khuẩn thuộc nhóm vi khuân gram dương, có những đặc tính giống vi khuẩn như kích thước nhỏ, màng tế bào của xạ khuẩn không chứa cellulose hay chitin, sự phân chia tế bào của xạ khuẩn theo kiêu của vi khuẩn. Mặt khác, xạ khuẩn lại có hình thái giống nam ở chỗ phát triển bằng cách phân nhánh nhờ những sợi nhỏ, đài gọi là khuẩn ty.
Mỗi khuẩn ty do một tế bào hình thành, tập hợp các khuẩn ty này gọi là hệ khuẩn ty. Phần lớn xạ khuẩn là nhóm VSV sinh trưởng hiểu khí, ưa âm, một số ít ưa nhiệt.