chương 1 Bên cạnh sự phát triển của văn học mạng nói chung không thể thiếu đi thơ mạng, trong đó, có hai địa chỉ được độc giả mạng yêu thích là Nguyễn Thế Hoàng Linh và Nguyễn Phong Việt. Trong bối cảnh bùng nổ của các kênh thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội như Youtube, Blog, Facebook. Cũng như thác thông tin khổng lồ mỗi ngày, thơ mạng của Nguyễn Thế Hoàng Linh và Nguyễn Phong Việt tạo nên dấu ấn riêng biệt cũng như những nỗ lực mang lại hơi thở mới, luồng sinh khí mới cho nền thơ ca đương đại của Việt Nam. Hai tác giả trẻ này có thời gian xuất hiện trên văn đàn mạng khác nhau nên họ vừa có sự giao thoa trong một số nội dung, vừa thể hiện tính riêng biệt và độc đáo của mình trong quá trình sáng tác.
Họ đều là những nhà thơ mang tinh thần thời đại chúng ta đang sống. 19 Chương 2 THƠ NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH, NGUYỄN PHONG VIỆT NHÌN TỪ CHIỀU KÍCH HIỆN THỰC 2. Những khát khao về tình yêu và nỗi cô đơn Một vấn đề được cả Nguyễn Thế Hoàng Linh và Nguyễn Phong Việt quan tâm chính là viết về tình yêu tuổi trẻ. Nguyễn Thế Hoàng Linh có giai đoạn sáng tác một lượng lớn tác phẩm thơ tình.
Còn Nguyễn Phong Việt hướng đến lối viết tự sự, kể câu chuyện của chính mình và điều này lại trở thành sức hấp dẫn của anh đối với công chúng. Trên blog cá nhân của một fan thơ Nguyễn Phong Việt có dòng chia sẻ như sau: “Tôi lại chẳng tìm nổi cảm xúc khi động chạm đến thơ. Đúng, tôi vốn là một đứa không hề thích thơ. Cho đến khi tôi tình cờ đọc được bài thơ Cứ ngồi lặng im thế mà khóc của nhà thơ Nguyễn Phong Việt.
Thơ của anh là những lời thủ thỉ nhỏ nhẻ nhưng lại thấm dẫm những cảm xúc chân thật và gần gũi. Từng dòng thơ đặc sắc luôn có một sức hút kì lạ đối với tôi. Đọc thơ Nguyễn Phong Việt tôi luôn cảm thấy bình yên thanh thản và thân thuộc”. Lời tâm sự của một cô gái cũng là lời tâm tình của người hâm mộ thơ Nguyễn Phong Việt.
Điều gì tạo nên sức hút khi Nguyễn Phong Việt viết về tình yêu? Tình yêu là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca. Gần chúng ta nhất còn có “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu, hay “bà hoàng thơ tình” Xuân Quỳnh. Và rồi trong đời sống thơ ca đương đại, xuất hiện thêm Nguyễn Phong Việt. Tình yêu được cất lên như những rung động cảm xúc thanh xuân: “Rồi sẽ đến một ngày có người ôm lấy ta và hỏi về tình yêu/ là bước đi bên nhau mặc gió mưa đầy ắp/ một người choàng tay lặng yên và một người mở lòng ra mà khóc/ giây phút tổn thương chỉ là giây phút khởi đầu cho đời sống mang chuỗi ngày dài thứ tha” (Đám cưới 2).
Dấu ấn của tuổi trẻ in đậm lên hơi thở từng câu 20 chữ, hành trình nhân sinh chưa đủ dài nhưng xúc cảm đã chạm tới ngưỡng cùng của thấu suốt, thanh thản. Dù cảm xúc trạng thái tâm lý ấy chỉ là nguỵ trang cho muộn phiền, băn khoăn, lo lắng. Hướng đến đối tượng “hoa học trò” nên thơ Nguyễn Phong Việt khai thác chiều kích của những tâm hồn tươi trẻ. Họ là những người có đủ thời gian để làm lại, thừa mạnh mẽ để vươn lên nhưng cũng đủ yếu mềm để thấy cô đơn, lạc lõng, chìm sâu trong sầu muộn.
Thứ xúc cảm này đối với người nghệ sĩ là mảnh đất màu mỡ giúp ngòi bút sáng tác của họ phát huy mạnh mẽ. Trong lần tâm sự với báo Việt Nam Mới, Nguyễn Phong Việt từng nói: “Trong bản năng của họ lúc nào cũng có một chút cô đơn. Đó là thực tế. Tức là, cái sự cô đơn đó nó không thể thiếu cho công việc sáng tác của họ”.
Đã có thời kì sự cô đơn được nhắc đến nhiều trong phong trào Thơ Mới, cái cảm giác lạc loài, lạc lõng khắc sâu vào những vần thơ thời kì đó. Bước sang giai đoạn 1945 – 1975, cô đơn hay nỗi buồn trở nên vắng bóng, điều đó hoàn toàn được hiểu là do yêu cầu thực tế, văn học phục vụ chiến đấu và cách mạng, các nhà văn nhà thơ thời kì đó viết về tinh thần hăng hái của thế hệ “Tôi với anh đôi người xa lạ/ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau/ Súng bên súng/ Đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ/ Đồng chí” (Đồng chí – Chính Hữu) trong kháng chiến chống Pháp; hay của những người con trai con gái mang trong mình lí tưởng náo nức của thời đại: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Theo chân Bác - Tố Hữu) trong kháng chiến chống Mĩ. Đâu còn chỗ cho nỗi cô đơn. Thậm chí cái bi cũng ít được nói tới, nếu có, nó phải trở thành động lực cho tranh đấu.
Cái chết của người con gái trong thi phẩm Núi đôi của nhà thơ Vũ Cao là một ví dụ. Còn gì đau đớn, tuyệt vọng hơn dành cho các cặp đôi yêu nhau khi cái chết chia lìa họ. Nhưng khi ở trong tuyệt vọng ấy chàng trai có được suy nghĩ “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa 21 trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” (Núi đôi – Vũ Cao). Đến thời kì đổi mới 1986, nỗi buồn, sự cô đơn đã quay trở lại văn đàn ở diện mạo của những lạc lõng trước thời cuộc hay khác lạ so với đồng loại của mình.
Tướng Thuấn trong Tướng về hưu (Nguyễn Huy thiệp) cô đơn, Hoài trong Thiên Sứ (Phạm Thị Hoài) cô đơn. Bước sang thời kì đương đại, cô đơn trở thành tâm thế thường trực trong tâm hồn của những người trẻ, họ nguỵ trang cho bản thân một vẻ bình thản thậm chí bất cần nhưng sâu bên trong luôn cảm thấy lẻ loi, đơn độc. Bởi thế nên những lời hát, câu thơ nói về tâm trạng cảm xúc này luôn được đón nhận nồng nhiệt vì nó nói lên hộ bao người. Từ ca khúc “Người lạ ơi” của nam rapper Karik là một ví dụ: “Tôi lạc quan giữa đám đông, nhưng khi một mình thì lại không.
Cố tỏ ra là mình ổn, nhưng sâu bên trong nước mắt là biển rộng. Lắm lúc chỉ muốn có ai đó, dang tay ôm lấy tôi vào lòng. Cho tiếng cười trong mắt được vang vọng, cô đơn một lần rời khỏi những khoảng trống”. Nói được tiếng nói của thời đại mình đang sống, nên bài hát chỉ sau hai ngày ra mắt đã vươn lên vị trí số một trong bảng xếp hạng âm nhạc với bốn lần chạm đỉnh Zing (trang nhạc trực tuyến số một ở Việt Nam).
Khai thác chiều kích từ lớp người trẻ tuổi, thơ Nguyễn Phong Việt tạo được sức hút cực to lớn, nỗi cô đơn trở đi trở lại trong thơ anh như một ám ảnh, nó xuất phát từ những “trải nghiệm thật của cuộc đời mình từ những đau đớn và cô đơn có lúc tận cùng” (Nguyễn Phong Việt). Để hiểu rõ hơn về những trạng thái tinh thần trong thơ Nguyễn Phong Việt chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thống kê tần suất xuất hiện những từ ngữ biểu đạt tâm trạng qua các bài thơ mạng và cả 6 tập thơ đã phát hành của anh. Số liệu cụ thể trong bảng sau: 22 Bảng 2.1: Tần suất xuất hiện các từ ngữ biểu đạt tâm trạng tiêu cực trong thơ Nguyễn Phong Việt Những từ ngữ Đơn độc/ Khóc/ Buồn Đau Cay đắng biểu đạt tâm trạng cô đơn Nước mắt Số lần xuất hiện 79 306 55 110 327 Bảng 2.2: Tần suất xuất hiện các từ ngữ biểu đạt tâm tạng tích cực Những từ ngữ biểu Cười/ vui Hạnh phúc Yêu Bình Yên đạt tâm trạng Số lần xuất hiện 353 169 86 110 Bảng 2.3: Tổng kết phân loại tâm trạng của chủ thể trữ tình trong thơ Nguyễn Phong Việt Số lượng từ Tần số xuất Loại trạng thái Tỉ lệ ngữ biểu đạt hiện Tích cực 5 718 40% Tiêu cực 7 877 60% Qua kết quả thống kê trên, chúng tôi đưa đến kết luận bước đầu về chiều kích về tuổi trẻ trong thơ Nguyễn Phong Việt với chiều sâu nội cảm ở trạng thái tinh thần mang màu sắc trầm, u buồn. Thế nhưng hành trình vận động trong thơ luôn hướng về ánh sáng và hơi ấm nên có buồn nhưng không quá bị luỵ.
Thế giới nội cảm của chủ thể có sự thấu triệt những tâm hồn trưởng thành đau đớn bên trong thể xác thanh xuân. Bàn về nỗi cô đơn, lạc lõng, đơn côi, đơn độc trong xã hội đương đại là ta đang tìm về nơi sâu kín của mỗi bản thể. Đây là tâm thế thường trực và ám ảnh khi cái tôi, những vấn đề cá nhân ngày càng được coi trọng. Mật độ xuất hiện các từ “cô đơn”, “đơn độc”, “một mình” trong thơ Nguyễn Phong Việt 23 dày đặc.
Tựa đề một tập thơ còn có tên gọi Sinh ra để cô đơn , như nói cho mọi người trẻ trong thời đại mà chúng ta đang sống, nó thường nhật tới mức được ví như một tách cà phê buổi sáng. Tựa đề là một lời bỏ ngỏ cho hoài nghi đớn đau: Tại sao, tại sao ngay từ khi sinh ra chúng ta đã phải mang vác những cô đơn trong con người mình là từ giây phút nào, những cô đơn ấy bắt đầu. Muôn hình vạn trạng của nỗi cô đơn trở nên hữu hình trong thơ Nguyễn Phong Việt. Đó là nỗi cô đơn của những mặc cảm yêu đương không trọn vẹn: “Chỉ ước gì lẻ loi đó là bản năng/ chấp nhận như một cơn mưa giữa trời sũng nước/ sẽ lau khô mình bằng những nghĩ suy đơn giản/ ai cũng có một phần bóng đêm đi ngược sáng/ chỉ là không phải ai cũng có người cần chở che” (Chìm xuống thật mau); là sự lẻ loi của những tâm hồn khát khao được thấu hiểu: “Nỗi cô đơn này được giữ lại bằng tất cả những đắng cay chân thành/ không ai ép buộc ai sống một cuộc đời lầm lũi/ nên cứ thản nhiên nếu quanh mình vẫn là bóng tối/ có những yêu thương sinh ra chỉ để làm thành một câu hỏi/ đến cuối đời” (Mỗi đêm trong ngàn đêm).
Cảm giác đơn độc lẻ loi ấy còn là nhiều sự lựa chọn: “Yêu thương một con người hay đơn độc một hành trình/ đều không phải là định mệnh mà là lựa chọn” (Những con đường). Chẳng ai ép buộc nhưng những người trẻ họ vẫn cảm thấy như vậy.