Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác chung trong Luật quốc tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn đối với Việt Nam" của sinh viên Nguyễn Văn Hanh (chuyên ngành Luật quốc tế, dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Hồng Hạnh) được xây dựng trên bối cảnh khoa học kỹ thuật và kinh tế biển phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XXI. Sự gia tăng nhận thức về vai trò chiến lược của biển đối với an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản và tài nguyên dầu khí, đã thúc đẩy các quốc gia mở rộng chủ quyền và quyền tài phán ra biển. Quá trình này làm nảy sinh các mâu thuẫn, tranh chấp phức tạp trong phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế, đặc biệt tại các vùng biển chồng lấn hoặc giáp ranh đường phân giới. Trong bối cảnh nguy cơ xung đột vũ trang đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, giải pháp khai thác chung được xem là một phương thức hòa bình nhằm "làm loãng và mềm hóa" xung đột, tạm thời gác lại bất đồng về phân định để cùng chia sẻ lợi ích tài nguyên.
Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định qua 6 nội dung cụ thể:
- Hiểu rõ các quy định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam là thành viên.
- Bảo vệ chủ quyền quốc gia; bảo vệ các lợi ích của quốc gia đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
- Tìm ra giải pháp tối ưu cho việc xây dựng một quy chế pháp lý hiệu quả nhằm bảo đảm lợi ích công bằng cho các bên khi khai thác chung.
- Xác lập vùng khai thác chung trên biển, đặc biệt trên Biển Đông giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.
- Xác lập chế độ pháp lý của vùng khai thác chung tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Hình thành mô hình quản lý khai thác chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung làm rõ hệ thống lý luận (khái niệm, đặc điểm, phân loại, cơ sở pháp lý quốc tế) và thực tiễn áp dụng UNCLOS 1982 vào các vùng khai thác chung thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Đề tài khảo sát các hiệp định phân định và khai thác chung mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia lân cận trên Biển Đông, từ đó đề xuất giải pháp thiết lập chế độ pháp lý và triển vọng khai thác các mỏ tài nguyên nằm vắt ngang đường ranh giới biển.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động khai thác chung, các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong UNCLOS 1982, cùng hệ thống các hiệp định khai thác chung song phương và đa phương trên thế giới và tại khu vực Biển Đông. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào vùng Biển Đông (bao gồm Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong sự đối sánh với thực tiễn các khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Về thời gian, công trình khảo sát quá trình phát triển của luật biển quốc tế từ Hội nghị Lahaye 1930, các Công ước Giơnevơ 1958, UNCLOS 1982 cho đến các thỏa thuận quốc tế được ký kết vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của công trình dựa trên hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế về biển, các điều ước quốc tế đa phương và án lệ quốc tế:
- Điều ước quốc tế: Hiến chương Liên hợp quốc 1945; 4 Công ước Giơnevơ năm 1958 (Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về biển cả, Công ước về thềm lục địa); UNCLOS 1982 (đặc biệt là Khoản 3 Điều 74 và Khoản 3 Điều 83 về dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; Điều 56, 57, 58 về vùng đặc quyền kinh tế; Điều 77, 78, 79, 80, 82 về thềm lục địa; Điều 208 về ngăn ngừa ô nhiễm môi trường); Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC).
- Án lệ quốc tế: Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong Vụ kiện Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 (CHLB Đức / Đan Mạch, CHLB Đức / Hà Lan) xác lập nguyên tắc kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền ("đất thống trị biển"), nguyên tắc công bằng và đề xuất thỏa thuận khai thác chung duy trì sự thống nhất của mỏ; Phán quyết Vụ ngư trường Anh - Na Uy năm 1951 xác lập tính hợp pháp của phương pháp đường cơ sở thẳng đối với bờ biển khúc khuỷu.
- Tiếp cận lý luận: Bản chất pháp lý của khai thác chung được phân tích dưới ba góc độ: quan hệ pháp luật quốc tế, chế định pháp luật quốc tế và hành vi pháp luật quốc tế; đồng thời phân biệt thuật ngữ "khai thác chung" và "hợp tác cùng phát triển" (joint development).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh luật học, khảo cứu tài liệu chuyên khảo và điều ước quốc tế, cùng phương pháp đánh giá thực trạng nghiên cứu pháp lý.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn kiện điều ước quốc tế song phương và đa phương (như Hiệp định Vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia 1982, Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia 1992, Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc 2000, Hiệp định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia 2003...), phán quyết của ICJ, các tuyên bố ngoại giao và các công trình nghiên cứu học thuật quốc tế (Mark J. Valencia, Hashim Djalal, Monique Chemillier-Gendreau).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về hoat động khai thác chung trong Luật quốc tế
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm, phân loại, mô hình quản lý và quá trình pháp điển hóa các quy định về khai thác chung trong luật quốc tế:
- Khái niệm và đặc điểm: Bản chất khai thác chung là sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm khai thác tài nguyên biển thông qua cơ chế quản lý phù hợp. Dưới góc độ khoa học pháp lý, khai thác chung được định vị là quan hệ pháp luật, chế định pháp luật và hành vi pháp luật quốc tế. Bốn đặc điểm cốt lõi gồm: chủ thể chính là quốc gia (các tổ chức kinh tế tham gia theo ủy quyền); đối tượng gồm tài nguyên sinh vật (thủy sản) và phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản rắn) cùng các dịch vụ hàng hải, nghiên cứu khoa học, du lịch; khu vực khai thác có thể là vùng biển chưa phân định (hợp nhất cả tài nguyên và quyền quản lý), nơi có mỏ vắt ngang đường ranh giới đã phân định, hoặc vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn nhưng quốc gia thiếu tiềm lực nên hợp tác với nước khác; căn cứ xác lập là điều ước quốc tế.
- Phân loại khai thác chung: Căn cứ theo đối tượng (sinh vật, phi sinh vật, hỗn hợp); căn cứ theo số lượng chủ thể (song phương, đa phương); căn cứ theo tình trạng pháp lý khu vực (chưa phân định, đã phân định có mỏ vắt ngang, trong vùng chủ quyền xác định); căn cứ theo phương thức tiến hành (quản lý trực tiếp qua cơ quan chung, quản lý qua tổ chức/doanh nghiệp được ủy quyền, hoặc do một bên ký kết quản lý đơn nhất).
- Mô hình quản lý: (1) Mô hình một quốc gia quản lý nhân danh các bên liên quan (đơn giản nhưng ít được lựa chọn do khó tối đa hóa lợi ích); (2) Mô hình cơ chế cùng khai thác (thành lập liên doanh hoặc ủy quyền doanh nghiệp); (3) Mô hình thiết lập cơ quan quyền lực chung với đại diện chính phủ để điều hành tập trung.
- Ý nghĩa và vai trò: Đóng vai trò là dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến việc hoạch định ranh giới cuối cùng (theo Khoản 3 Điều 74 và Khoản 3 Điều 83 UNCLOS 1982); là biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, vốn để khai thác tiềm năng biển; củng cố quan hệ hữu nghị quốc tế.
- Quá trình phát triển và cơ sở pháp lý: Khảo sát từ Hội nghị Lahaye 1930, 4 Công ước Giơnevơ 1958, hai án lệ ICJ (Biển Bắc 1969 và Ngư trường Na Uy 1951), đến UNCLOS 1982 (ký ngày 10/12/1982, hiệu lực ngày 16/11/1994). Tác giả phân tích chi tiết quy chế pháp lý khi thiết lập vùng khai thác chung tại thềm lục địa chồng lấn (quyền đặc quyền tài nguyên, nghĩa vụ không cản trở tự do hàng hải, hàng không, dây cáp ngầm của bên thứ ba, nghĩa vụ đóng góp tối đa 7% giá trị khai thác ngoài 200 hải lý theo Điều 82 UNCLOS 1982) và tại vùng chồng lấn cả thềm lục địa lẫn vùng đặc quyền kinh tế (áp dụng Điều 56, 57, 58.2 UNCLOS 1982).
Chương 2: Thực tiễn về hoạt động khai thác chung của một số khu vực trên Thế giới
Chương 2 tổng hợp thực tiễn điều ước quốc tế về khai thác chung dầu khí và nghề cá tại ba khu vực:
- Khu vực châu Âu:
- Khai thác dầu khí: Phát triển mạnh tại Biển Bắc và Địa Trung Hải với các điều khoản mỏ vắt ngang. Điển hình là Hiệp định Anh - Na Uy năm 1976 tại mỏ Frigg Field: thành lập Ủy ban tư vấn gồm 6 thành viên; nhượng quyền cho các doanh nghiệp (phía Anh gồm Total Oil Marine, Elf Oil, Aquitaine Oil; phía Na Uy gồm Elf Norge, Norsk Hydro, Den Norske Stats Oljeselskap...); giữ nguyên thẩm quyền tài phán theo lãnh thổ, không đánh thuế chéo đối với thu nhập từ giấy phép của bên kia; giải quyết tranh chấp qua tham vấn hoặc Tòa trọng tài theo nguyên tắc đa số.
- Khai thác nghề cá: Hơn 100 hiệp định được ký kết, chia làm 4 nhóm (phân định thềm lục địa/vùng đánh cá; hợp tác cho phép đánh bắt lẫn nhau trong EEZ; nhượng quyền trả phí cho bên ngoài; hợp tác nghiên cứu khoa học). Điển hình là Thỏa thuận Nauy - Ai-xơ-len - Nga ngày 15/5/1999 tại Bắc Đại Tây Dương: phân bổ hạn ngạch cho Na Uy gồm 500 tấn cá ngoài đường cơ sở và 64°B, 17.000 tấn cá vảy nhỏ tại 64°30'B; áp dụng luật của Nga trong EEZ của Nga; không lập cơ quan chung; thời hạn đến 31/12/2002 (gia hạn 4 năm).
- Khu vực châu Mỹ:
- Khai thác dầu khí: Ghi nhận nguyên tắc phân định mỏ vắt ngang, tiêu biểu là Hiệp định Venezuela - Trinidad & Tobago năm 1990 và Nghị định thư 2003 thiết lập vùng khai thác mỏ Loran, thỏa thuận năm 2007 xác định 73% (tương đương 7,3 Tcf hay $10^9\text{ m}^3$) trữ lượng thuộc thềm lục địa của Trinidad & Tobago.
- Khai thác nghề cá: Khoảng 100 thỏa thuận thuộc 4 nhóm: nghiên cứu khoa học (Argentina - Đức 1978, Brazil - Chile 1980); bảo tồn và quản lý (Bắc Mỹ giữa Hoa Kỳ và Canada); vùng đánh cá chung (Hiệp định Trinidad & Tobago - Barbados 1990 cho phép tàu Barbados đánh cá tối đa 8 ngày/tháng trong EEZ của Trinidad & Tobago); hiệp định đa phương của khối CARICOM (12 nước vùng Caribe).
- Khu vực châu Phi:
- Hoạt động khai thác dầu khí/hỗn hợp còn hạn chế, tính đến hết năm 2006 mới có 3 thỏa thuận: Xu-đăng - Ả-rập Xê-út (16/5/1974) tại thềm lục địa Biển Đỏ; Senegal - Guinea Bissau; Nigeria - Sao Tome & Principe (2/2001).
- Hoạt động nghề cá rất phát triển với 3 nhóm chính: hiệp định nhượng quyền có trả phí (EU - Angola 2002, Estonia - Thụy Điển 1993, Estonia - Phần Lan 1994); hỗ trợ khoa học kỹ thuật (Liên Xô - Guinea 1981); thiết lập vùng đánh cá chung.
Chương 3: Khai thác chung trên biển Đông – Hiện trạng và triển vọng đối với Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng tranh chấp, các điều ước khai thác chung hiện hành và đánh giá các mô hình triển vọng tại Biển Đông:
- Hiện trạng tranh chấp tại Biển Đông:
- Về hai quần đảo: Việt Nam khẳng định chủ quyền lịch sử đối với Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XVII. Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng một phần Hoàng Sa năm 1956, chiếm toàn bộ năm 1974, và chiếm đóng một số cấu trúc tại Trường Sa năm 1988. Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình năm 1956. Philippines yêu sách dựa trên phát hiện của Thomas Cloma (1956), chiếm 3 đảo năm 1968, chiếm thêm 5 đảo giai đoạn 1980-1989 và vẽ ranh giới quả trám năm 1978. Malaysia yêu sách năm 1971, ban hành bản đồ thềm lục địa 1979 và đưa quân chiếm 5 vị trí (Hoa Lau 1983, Kỳ Vân và Kiệu Ngựa 1986, Én Ca và Thám Hiểm 1999) dựa trên việc diễn giải sai Điều 76 UNCLOS 1982. Brunei yêu sách đá ngầm Louisa dựa trên thềm lục địa. Hiện Việt Nam đang quản lý thực tế 21 đảo, đá, bãi cạn thuộc Trường Sa.
- Về phân định biển: Tồn tại các tranh chấp thềm lục địa và EEZ giữa Việt Nam với Trung Quốc (Vịnh Bắc Bộ, ngoài cửa Vịnh), với Thái Lan và Campuchia (Vịnh Thái Lan), với Malaysia (vùng biển Tây Nam và phía Nam Biển Đông), với Indonesia (Tây Nam Biển Đông).
- Thực tiễn khai thác chung tại Biển Đông:
- MOU Malaysia - Thái Lan (1979): Vùng khai thác chung rộng 7.250 km² trong Vịnh Thái Lan (điểm A đến G); thành lập Cơ quan chung với hai đồng chủ tịch; phân chia quyền tài phán hình sự theo trục Bắc - Nam của khu vực.
- Hiệp định Vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (07/7/1982): Đặt vùng biển giữa Kiên Giang/Phú Quốc/Thổ Chu và Kampot/Poulo Wai dưới chế độ nội thủy, sử dụng đường Brévié 1939 để phân định đảo, cùng tiến hành tuần tiễu kiểm soát.
- Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia (05/6/1992): Giải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa rộng 1.440 km²; giao Petrovietnam và Petronas vận hành thông qua Ủy ban hỗn hợp và Ủy ban Điều phối; chia đều chi phí và lợi nhuận 50/50.
- Hiệp định hợp tác nghề cá Việt Nam - Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ (25/12/2000): Gồm 7 phần, 22 điều; xác lập vùng đánh cá chung từ đường đóng cửa vịnh đến vĩ tuyến 20°B, mở rộng 30,5 hải lý sang mỗi bên tính từ đường phân định; Ủy ban liên hợp nghề cá quản lý; chia Vịnh thành 4 vùng nước (vùng đánh cá chung, vùng quá độ có hiệu lực 4 năm, vùng đệm cửa sông Bắc Luân và vùng nước bờ biển).
- Điều khoản mỏ vắt ngang: Được ghi nhận tại Hiệp định Việt Nam - Thái Lan 1997, Điều 4 Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia 2003.
- Đánh giá các mô hình khai thác chung đối với Biển Đông (đặc biệt khu vực Trường Sa):
- Phương án Valencia (1997): Đề xuất 5 kịch bản chia sẻ tài nguyên dựa trên cơ chế đa phương; nhược điểm là gạt bỏ một phần hoặc toàn bộ hiệu lực của Hoàng Sa và Trường Sa, tạo lợi thế bất hợp lý cho Trung Quốc.
- Chủ trương "Gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc (từ 1982): Thực chất gắn với yêu sách "chủ quyền thuộc Trung Quốc" và "đường lưỡi bò", áp đặt khai thác chung trên thềm lục địa hợp pháp của các nước khác; bị Việt Nam và các nước ASEAN bác bỏ do không có căn cứ pháp lý quốc tế.
- Công thức bánh vòng "Donut" của GS. Hashim Djalal (1994): Quốc gia ven biển giữ 200 hải lý, vùng ở giữa làm vùng phát triển chung phi quân sự; không làm rõ được cơ chế quản lý, bị Trung Quốc bác bỏ do vô hiệu hóa đường lưỡi bò.
- Chế độ "cộng quản" của GS. Monique Chemillier-Gendreau: Lập cơ quan quốc tế quản lý tài nguyên và an toàn hàng hải; thiếu tính khả thi vì chuyển biến tranh chấp chủ quyền thành tranh chấp chia chác tài nguyên.
- Phương án "Hợp tác cùng phát triển" của Việt Nam (Tuyên bố 4 điểm năm 1993): Chỉ áp dụng tại các vùng biển "có tranh chấp thực sự" (chồng lấn hợp pháp theo UNCLOS 1982); mở rộng hợp tác sang bảo vệ môi trường, cứu hộ, an toàn hàng hải; tuân thủ DOC 2002 và UNCLOS 1982.
Kết quả và đóng góp
Công trình đã hệ thống hóa và lượng hóa được nhiều dữ liệu pháp lý và thực tiễn quan trọng:
| Thỏa thuận / Mô hình |
Bên tham gia |
Diện tích / Quy mô / Hạn ngạch |
Cơ chế quản lý / Vận hành |
| Mỏ Frigg Field (1976) |
Anh – Na Uy |
Mỏ khí vắt ngang biên giới Biển Bắc |
Ủy ban tư vấn 6 thành viên; doanh nghiệp nhượng quyền khai thác; phân chia theo trữ lượng |
| Nghề cá Bắc Đại Tây Dương (1999) |
Na Uy – Ai-xơ-len – Nga |
Na Uy: 500 tấn cá (>64°B) và 17.000 tấn cá vảy nhỏ (64°30'B) |
Không lập cơ quan chung; áp dụng luật của Nga trong EEZ Nga; hiệu lực đến 31/12/2002 |
| Mỏ khí Loran (1990, 2007) |
Venezuela – Trinidad & Tobago |
73% (7,3 Tcf hay $10^9\text{ m}^3$) thuộc Trinidad & Tobago |
Ủy ban chung quản lý mỏ khí vắt ngang |
| Vịnh Thái Lan (1979) |
Malaysia – Thái Lan |
Vùng chung 7.250 km² (điểm A đến G) |
Cơ quan chung (2 đồng chủ tịch); phân chia tài phán hình sự Bắc - Nam |
| Vùng nước lịch sử (1982) |
Việt Nam – Campuchia |
Vùng biển Kiên Giang – Kampot |
Chế độ nội thủy; dùng đường Brévié 1939 chia đảo; tuần tiễu chung |
| Thềm lục địa Tây Nam (1992) |
Việt Nam – Malaysia |
Vùng chồng lấn 1.440 km² |
Petrovietnam – Petronas; Ủy ban hỗn hợp & Điều phối; chia 50/50 |
| Nghề cá Vịnh Bắc Bộ (2000) |
Việt Nam – Trung Quốc |
Cách đường phân định 30,5 hải lý mỗi bên; vùng quá độ 4 năm |
Ủy ban liên hợp nghề cá; kiểm soát theo cờ và vùng thẩm quyền |
Về mặt giải pháp và kiến nghị, tác giả nhấn mạnh:
- Phải phân định rành mạch giữa khái niệm "khai thác chung" (tập trung vào tài nguyên kinh tế) và "hợp tác cùng phát triển" (bao hàm nghiên cứu biển, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải).
- Khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII; kiên quyết bác bỏ chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" gắn với yêu sách "chủ quyền thuộc Trung Quốc" và "đường lưỡi bò".
- Đối với Biển Đông, chỉ chấp nhận khai thác chung tại các vùng "có tranh chấp thực sự" (vùng chồng lấn tạo ra bởi các yêu sách có căn cứ pháp lý theo UNCLOS 1982).
- Vận dụng linh hoạt mô hình song phương ủy quyền doanh nghiệp dầu khí (như mô hình Việt Nam - Malaysia) và thành lập các ủy ban liên hợp chuyên ngành (như Hiệp định nghề cá Vịnh Bắc Bộ 2000); xây dựng quy chế giải quyết tranh chấp mỏ vắt ngang qua thương lượng hoặc trọng tài.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc phân tích toàn diện cơ sở pháp lý của các dàn xếp tạm thời theo UNCLOS 1982; so sánh có hệ thống thực tiễn khai thác chung tại châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và Biển Đông; đồng thời đưa ra các lập luận phản bác các mô hình phân chia đa phương bất lợi cho chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi tư liệu:
- Do khảo sát diện rộng trên toàn cầu, nguồn tài liệu tại khu vực châu Phi và một số nước châu Mỹ chủ yếu dừng lại ở các hiệp định khung hoặc khái quát hóa nguyên tắc, chưa đi sâu vào chi tiết hạch toán tài chính, tỷ lệ phân chia thuế tài nguyên hay cơ chế tố tụng trọng tài cụ thể của từng dự án.
- Các mô hình đa phương áp dụng cho khu vực quần đảo Trường Sa chủ yếu dừng ở mức phân tích lý thuyết và học thuyết quốc tế, chưa thể lượng hóa khả năng triển khai thực tế do sự bất đồng lập trường chính trị - pháp lý giữa các quốc gia liên quan.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm:
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình vận hành các mỏ dầu khí vắt ngang đường phân định thềm lục địa.
- Xây dựng hệ thống điều khoản hợp đồng mẫu (model clauses) về phân chia sản phẩm, bảo vệ môi trường biển và quyền tài phán hình sự, dân sự phục vụ cho các đàm phán khai thác chung song phương và đa phương của Việt Nam trong tương lai.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật quốc tế, Luật Biển, Quan hệ quốc tế và Quản lý biển đảo.
- Cán bộ làm công tác ngoại giao, đàm phán biên giới lãnh thổ và chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp năng lượng, dầu khí (như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - Petrovietnam).
Các phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Phân tích cơ sở pháp lý và điều kiện áp dụng của Khoản 3 Điều 74 và Khoản 3 Điều 83 UNCLOS 1982.
- Hồ sơ phân tích cơ chế thực thi của các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết (Hiệp định Vùng nước lịch sử 1982, Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia 1992, Hiệp định nghề cá Vịnh Bắc Bộ 2000, Hiệp định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia 2003).
- Luận cứ phản bác các kịch bản phân chia bất hợp lý tại Biển Đông (phương án Valencia, đề xuất của Trung Quốc, công thức Donut).
Câu hỏi thường gặp
1. Điều khoản nào trong UNCLOS 1982 là cơ sở pháp lý trực tiếp cho các thỏa thuận khai thác chung tạm thời?
Khoản 3 Điều 74 (đối với vùng đặc quyền kinh tế) và Khoản 3 Điều 83 (đối với thềm lục địa) của UNCLOS 1982 quy định: trong khi chờ đợi ký kết các thỏa thuận phân định dứt khoát, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không làm phương hại hay cản trở việc ký kết thỏa thuận cuối cùng.
2. Phán quyết Thềm lục địa Biển Bắc năm 1969 của ICJ có ý nghĩa như thế nào đối với chế định khai thác chung?
Phán quyết năm 1969 của ICJ đã xác lập nguyên tắc "đất thống trị biển", khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với phần kéo dài tự nhiên của thềm lục địa; bác bỏ tính ưu tiên bắt buộc của phương pháp đường cách đều; đồng thời chỉ ra rằng việc ký kết các thỏa thuận khai thác chung là giải pháp công bằng và đặc biệt thích hợp để duy trì tính thống nhất của mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua ranh giới.
3. Bản ghi nhớ năm 1992 giữa Việt Nam và Malaysia giải quyết vùng biển nào và cơ chế vận hành ra sao?
Bản ghi nhớ ngày 05/6/1992 giải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 1.440 km² giữa đường ranh giới tuyên bố năm 1971 của Việt Nam và đường ranh giới tuyên bố năm 1979 của Malaysia. Hai chính phủ ủy quyền cho Petrovietnam và Petronas vận hành khai thác dầu khí thông qua Ủy ban hỗn hợp và Ủy ban Điều phối, phân chia công bằng toàn bộ chi phí và lợi nhuận phát sinh.
4. Hiệp định nghề cá Vịnh Bắc Bộ năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc phân định các vùng nước như thế nào?
Hiệp định chia Vịnh Bắc Bộ thành 4 vùng nước: (1) Vùng đánh cá chung (giới hạn từ đường đóng cửa vịnh đến vĩ tuyến 20°B, rộng 30,5 hải lý về mỗi phía tính từ đường phân định); (2) Vùng quá độ (có hiệu lực 4 năm, sau đó hoàn trả về chế độ EEZ riêng); (3) Vùng đệm ở cửa sông Bắc Luân; (4) Vùng nước tính từ bờ biển mỗi nước đến ranh giới ngoài của vùng đánh cá chung. Cơ quan điều hành là Ủy ban liên hợp nghề cá.
5. Tại sao Việt Nam và các nước trong khu vực bác bỏ chủ trương "Gác tranh chấp, cùng khai thác" do Trung Quốc đề xuất?
Chủ trương này bị bác bỏ vì Trung Quốc đặt ra điều kiện tiên quyết là "chủ quyền thuộc Trung Quốc" và dựa vào yêu sách "đường lưỡi bò" không có căn cứ pháp lý quốc tế. Bản chất đề xuất này là biến các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế hoàn toàn hợp pháp của các quốc gia ven biển khác theo UNCLOS 1982 thành vùng tranh chấp để đòi chia sẻ tài nguyên, đồng thời loại trừ quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép của Việt Nam.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Hanh là một công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý có hệ thống về chế định khai thác chung trong luật biển quốc tế. Tác giả đã làm rõ các căn cứ điều ước trong UNCLOS 1982, tổng hợp thực tiễn quốc tế đa dạng tại các châu lục và phân tích sâu sắc các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký kết tại Biển Đông. Công trình khẳng định khai thác chung chỉ là giải pháp tạm thời tại các vùng biển có tranh chấp thực sự, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam và bác bỏ các yêu sách phi lý không dựa trên luật pháp quốc tế.