mở đầu cho việc công nhận rộng rãi phương pháp đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Các tiêu chuẩn của đường cơ sở thẳng Na Uy qua phán quyết của tòa, đã trở thành các tiêu chuẩn chung được Luật pháp quốc tế thừa nhận và được điển chế hóa trong các công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển - Công ước Giơ-ne-vơ năm 1958 [2] về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Thứ hai, Các nguyên tắc áp dụng đường cơ sở thẳng năm 1935 của Nauy đã trở thành các tiêu chuẩn mới của Luật quốc tế, thể hiện trong công ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1958 và điều 4. Công ước 1982, điều 7 của công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định: “1.Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng GVHD: ThS.
Phạm Hồng Hạnh SV: Nguyễn Văn Hanh LQT12 -01 18 Khai thác chung trong Luật quốc tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn đối với Việt Nam để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất nhô ra xa nhất và, ngay cả trong trường hợp về sau, ngấn nước triều thấp nhất có dịch chuyển vào phía trong bờ, các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi theo đúng công ước…” Thứ ba, Trong phán quyết ngư trường Na Uy, Tòa án công lý quốc tế đã cố gắng định nghĩa thế nào là vịnh, thế nào là vịnh lịch sử. Các định nghĩa về vịnh của Tòa án đã đi vào trong điều 7 của công ước năm 1958. Hội nghị lần thứ 3 về Luật Biển được tổ chức từ năm 1973 đến năm 1982 với 9 đàm phán và 11 khóa họp. Với kết quả của Hội nghị này, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 được thông qua và được kí kết tại Montego- Bay Gia-mai-ca ngày 10/12/1982 với 117 quốc gia trong đó có Việt Nam.
Công ước 1982 có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994 (12 tháng sau ngày Guy-a-na quốc gia thứ 60 - phê chuẩn theo quy định tại điều 308. Công ước bao gồm 17 phần với 320 điều, 9 phụ lục và 4 quyết định kèm theo, là một văn kiện quốc tế tổng hợp toàn diện, bao quát tất cả những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của Biển và đại dương, quy định về quyền lợi và nhiệm vụ về nhiều mặt của quốc gia (có biển hoặc không có biển). Đối với từng vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như dối với vùng biển quốc tế. Thành công của Công ước 1982 thể hiện tính đúng đắn và tiến bộ, được sự ủng hộ của đa số về các tư tưởng, nguyên tắc và mục đích của một trật tự mới cho các vùng buển và đại dương.
Phần lớn các quốc gia không tham gia bỏ phiếu sau đó cũng đã kí vào Công ước 1982.3 Cơ sở khai thác chung và sự điều chỉnh của Pháp luật quốc tế Theo Công ước Luật Biển 1982, trong khi chờ đợi kí kết các thỏa thuận về hoạch định ranh giới trên biển, “Các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tình chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc kí kết các thỏa thuận dứt khoát trong quá đội này” (Khoản 3 điều 64 và Khoản 3 điều 83) [6]. Phạm Hồng Hạnh SV: Nguyễn Văn Hanh LQT12 -01 19 Khai thác chung trong Luật quốc tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn đối với Việt Nam Như vậy, việc thiết lập khu vực khai thác chung bởi điều ước quốc tế giữa các quốc gia hữu quan là phù hợp và tuân theo những quy định chung của Luật quốc tế. Có hai vấn đề cần phải làm rõ là các vùng khai thác chung phải tuân thủ những quy định nào của Luật quốc tế khi chúng được thiết lập tại: nơi có thềm lục địa chồng lấn và nơi có sự chồng lấn cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. + Vùng khai thác chung được thiết lập tại nơi thềm lục địa chồng lấn.
Công ước quốc tế về thềm lục địa năm 1958 (Điều 2), Công ước luật Biển năm 1982 (Điều 77) và tập quán quốc tế đều quy định rằng mỗi quốc gia đều có quyền đối với thềm lục địa, không có sự phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa cũng như vào bất cứ tuyên bố chính thức nào. Quyền thuộc chủ quyền của quốc gia ven bờ đối với thềm lục địa là vốn có, đương nhiên (Điều 2.3 Công ước Giơ-ne-vơ 1958 và điều 77.1 Công ước luật Biển 1982). Trong thềm lục địa của mình, các quốc gia ven bờ có đặc quyền đối với việc thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên (gồm dầu và khí) hoặc khai thác những tài nguyên đó mà không có sự chấp thuận của quốc gia ven bờ (Điều 2.2 Công ước Geneve 1958 và Điều 77.2 Công ước Luật Biển năm 1982). Tuy vậy, việc thiết lập khu vực khai thác chung ở trên thềm lục địa và chế độ pháp lý của nó không được vượt quá giới hạn phạm vi các quyền mà Luật biển quốc tế quy định.
Do đó, về nguyên tắc, không một chế định nào của vùng khai thác chung được vượt ra ngoài quy định chung của Luật quốc tế. Trong việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản ở khu vực khai thác chung, các quốc gia hữu quan cũng sẽ thực thi các quyền tương ứng mà họ có được trong thềm lục địa của mình. Những quyền này bao gồm quyền xây dựng và thực thi chủ quyền đối với các trang thiết bị được sử dụng cho hoạt động khai thác tài nguyên như lắp đặt dàn khoan, các đảo nhân tạo… (Điều 5.4 Công ước Geneve 1958 và Điều 80 Công ước Luật Biển năm 1982). Bên cạnh các quyền, các quốc gia trong việc thiết lập và vận hành khu vực khai thác chung, còn có nghĩa vụ không can thiệp một cách bất hợp lý đối với các quyền tự do biển cả của quốc gia thứ ba trong vùng khai thác chung (Điều 5.1 Công ước Geneve 1958 và Điều 78.2 Công ước Luật Biển năm 1982).
Những quyền tự do này bao gồm tự do hàng hải, tự do hàng không và lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm. Tuy nhiên, quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm của quốc gia thứ ba không phải là tuyệt đối. Điều GVHD: ThS. Phạm Hồng Hạnh SV: Nguyễn Văn Hanh LQT12 -01 20 Khai thác chung trong Luật quốc tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn đối với Việt Nam 4 Công ước Geneve năm 1958 quy định rằng các quốc gia ven bờ không thể cản trở việc đặt dây cáp và ống dẫn ngầm; tuy nhiên quyền của các quốc gia khác trong lĩnh vực này lại “còn tuỳ thuộc vào các quyền của quốc gia ven bờ trong việc đưa ra các quy chuẩn thích hợp cho việc thăm dò và khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa”.
Công ước Luật Biển năm 1982 lặp lại quy định này và nhấn mạnh thêm rằng “tuyến ống dẫn đặt ở thềm lục địa cần được thoả thuận của quốc gia ven biển” (Điều 79. Nhóm nghĩa vụ thứ hai liên quan đến các thiết bị, công trình phục vụ khai thác các nguồn tài nguyên thềm lục địa (gồm cả khu vực khai thác chung). Luật Biển quốc tế quy định rằng, không một trang thiết bị, công trình nào có thể được xây dựng ở nơi có thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng hải quốc tế (Điều 5. Công ước Geneve 1958 và Điều 80 Công ước Luật Biển năm 1982).
Đồng thời, khi đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, các quốc gia phải tính đến các dây cáp và ống dẫn đã được lắp đặt trước đó; đặc biệt cần lưu ý không làm phương hại đến khả năng sửa chữa các đường dây cáp và ống dẫn ngầm đó (Điều 79.5 Công ước Luật Biển năm 1982). Cuối cùng, có hai nghĩa vụ của quốc gia ven bờ trong việc thực thi các quyền về thềm lục địa của mình. Thứ nhất, nghĩa vụ tận tâm thực hiện việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển bởi việc khai thác nguồn tài nguyên đáy biển thuộc quyền tài phán của mình gây ra (Điều 5.7 Công ước Geneve 1958 và Điều 208 Công ước Luật Biển năm 1982). Thứ hai, theo Điều 82 Công ước Luật Biển năm 1982, quốc gia ven biển có nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hay hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục điạ nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở (với tỷ lệ hằng năm tối đa là 7%).
Do đó, đối với những vùng khai thác chung nằm ngoài phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở, các quốc gia thành viên của thoả thuận khai thác chung đương nhiên phải chấp hành nghĩa vụ đóng góp này. Một điều cần lưu ý nữa, Luật Biển quốc tế hiện đại đã công nhận các quyền của quốc gia trong khu vực khai thác chung (quyền tự do hàng hải, quyền đánh cá, nghiên cứu khoa học…). Nếu một trong các quyền của quốc gia thứ ba bị vi phạm ở khu vực khai thác chung, quốc gia nào sẽ chịu trách nhiệm? Về nguyên tắc, tất cả các quốc gia thành viên của thoả thuận khai thác chung sẽ chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, hầu hết thực tiễn thoả thuận khai thác chung từ trước đến nay trên thế giới đều đưa ra một số GVHD: ThS.
Phạm Hồng Hạnh SV: Nguyễn Văn Hanh LQT12 -01 21 Khai thác chung trong Luật quốc tế - Những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn đối với Việt Nam điều khoản nhằm khuyến nghị quốc gia thứ ba chia sẻ và thông cảm trong trường hợp quyền lợi của họ không được đảm bảo đầy đủ. Việc thiết lập khu vực khai thác chung tại vùng chồng lấn thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven bờ được mở rộng ra không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải (Điều 57). Như vậy, chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế đã được mở rộng và hầu như bao trùm lên cả thềm lục địa.