Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về HIV/AIDS 1.1 Khái niệm về HIV/AIDS a. HIV HIV (Human Immunodeficiency Virus) dùng để chỉ loại vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy hệ thống miễn dịch làm cho cơ thể mất khả năng chống lại các bệnh tật [36].
AIDS AIDS (Acquired Immunodeficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Đây là giải đoạn cuối cả quá trình nhiễm HIV, giai đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người nhiễm HIV dễ mắc nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dẫn đến tử vong cho người bệnh [36]. Tác nhân gây bệnh HIV/AIDS Tên tác nhân: Tác nhân gây bệnh là do vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV - Human immunodeficiency virus). Đây là loại vi rút có men sao chép ngược.
Hiện nay, người ta xác định có hai loại HIV-1 và HIV-2. HIV-1 là nguyên nhân chính gây AIDS trên toàn thế giới. HIV-2 tìm thấy chủ yếu ở Tây Phi và khả năng lây truyền cũng như gây bệnh ít hơn so với HIV-1 [38], [43]. - Hình thái: HIV thuộc họ Retroviridae, có dạng hình cầu, kích thước khoảng từ 80- 120 nm.
Cấu tạo gồm 3 lớp: + Lớp vỏ ngoài là màng lipit kép. Gắn lên trên màng này có các gai nhú là phân tử glucoprotein gồm gp120 và các yếu tố xuyên màng gp41. + Lớp vỏ trong: Gồm 2 lớp protein là p17 và protein lõi p24. Đây là kháng nguyên quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV.
+ Lõi gồm 2 sợi ARN có các men gắn kết, men tổng hợp và men sao chép ngược. Nhờ men sao chép ngược nên khi xâm nhập vào tế bào, vi rút có thể tổng hợp ADN 2 vòng. Đoạn cuối hai đầu của AND mới tạo này có khả năng gắn được ổn định vào nhiễm sắc thể ADN của tế bào và trở thành 1 tiền vi rút. Tiền vi rút này sẽ như một gen của tế bào bị nhiễm vi rút và có thể tồn tại thầm lặng không phát triển và truyền sang cho thế hệ tế bào sau khi có phân bào.
Nó cũng có thể nhờ men ribonuclease của tế bào nhiễm 4 để tạo ra ARN truyền tin giúp tạo ra các protein của vi rút hoàn chỉnh. Đây là một đặc trưng của HIV và gây khó khăn cho việc sản xuất các thuốc để tiêu diệt HIV khi nó trong tế bào và lại gắn vào ADN của tế bào. Tính biến đổi gen của HIV là rất lớn và cũng là một đặc trưng quan trọng. Do vậy, nó gây khó khăn cho việc phát triển vắc xin phòng HIV cũng như sản xuất thuốc điều trị [39], [42].
- Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: HIV là vi rút dễ bị tiêu diệt bởi các tác nhân lý hoá ở môi trường bên ngoài cơ thể. Các nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng, trong giọt máu hoặc dịch cơ thể khô, HIV chỉ có thể tồn tại được từ vài phút đến vài giờ tuỳ thuộc vào môi trường. HIV cũng rất dễ bị tiêu diệt bởi tác động của nhiệt độ và chất sát khuẩn, nó bị tiêu diệt sau 30 phút ngâm trong cồn 70 độ, dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1%. Trong bơm kim tiêm có chứa máu không bị khô, chúng có thể tồn tại thậm chí đến vài ngày, trong xác chết bệnh nhân AIDS, chưa rõ HIV có thể tồn tại bao lâu nhưng một số nghiên cứu cho rằng chúng tồn tại trong vòng 24 giờ.
Tuy nhiên, ở nhiệt độ dưới 00C, tia X, tia cực tím không giết được HIV [41].3 Hình thái sinh học của HIV: Hình 1: Cấu trúc HIV [40] 1. Cơ chế bệnh sinh HIV gây tổn thương các tế bào hệ miễn dịch dẫn tới các rối loạn đáp ứng miễn dịch, trong đó TCD4 thường bị tổn thương đầu tiên và trầm trọng nhất. Khi HIV xâm Thang Long University Library 5 nhập vào tế bào TCD4, nó sẽ trực tiếp phá hủy TCD4 bằng cách làm tăng thẩm thấu tế bào, gây độc tế bào, hoặc gián tiếp giết TCD4 do hình thành kháng thể kháng lympho hoặc phản ứng chéo giữa kháng thể kháng HIV với kháng nguyên tế bào đích. Hậu quả của quá trình này dấn tới một loạt các rối loạn hệ thống miễn dịch trong cơ thể bao gồm: [10], [44] 1.
Đặc điểm dịch tễ HIV/AIDS a. Đặc điểm dịch tễ HIV trên thế giới: Những ca bệnh đầu tiên được phát hiện vào tháng 6 năm 1982 tại Los Angeles (Mỹ) trên 5 người tình dục đồng giới nam bị nhiễm trùng Pneumocytis Carini do suy giảm miễn dịch mắc phải. Sau đó nhiều nơi cũng lần lượt công bố các ca bệnh lâm sàng liên quan đến dấu hiệu suy giảm miễn dịch mắc phải. Đặc biệt từ khi phát triển ra các phương pháp xét nghiệm HIV, người ta thấy HIV có mặt ở mọi quốc gia trên thế giới.
- Theo báo cáo của Chương trình phối hợp liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), cuối năm 2007 toàn thế giới có khoảng 33,2 triệu người nhiễm HIV đang còn sống, với khoảng 30,8 triệu là ngưòi lớn và khoảng 2,5 triệu trẻ em [54]. Tổng số người nhiễm HIV được chia đều cho cả nam và nữ với tỷ lệ là 50:50. Vùng cận Sahara (Châu Phi) có số người hiện nhiễm HIV cao nhất khoảng 24,5 triệu người, tiếp đến là vùng Đông Nam Á khoảng 4 triệu người. Các vùng còn lại trên thế giới đều có người nhiễm HIV nhưng với số lượng và tỷ lệ thấp [54].
Những năm gần đây, tỷ lệ người nhiễm HIV trên tổng dân số có xu hướng không tăng do số nhiễm mới có xu hướng chững lại, số người được tiếp cận và điều trị thuốc kháng vi rút nhiều hơn và tuổi thọ bình quân trên đầu người chung toàn thế giới có xu hướng tăng lên. Đặc điểm dịch tễ tại Việt Nam: Vào tháng 12 năm 1990 ca nhiễm HIV tại Việt Nam được phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp sau đó bệnh dịch bùng nổ năm 1993 trong nhóm những người nghiện chích ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ổ dịch đã được lan truyền khắp cả nước đến tháng 2/1998 toàn bộ 61 tỉnh/ thành phố đã ghi nhận ca bệnh nhiễm HIV.
Nhưng đến năm 2002 con số đã lên tới 58.490 trường hợp nhiễm HIV, 8.717 trường hợp chuyển sang AIDS và 4.834 trường hợp tử vong do AIDS [21]. Tính đến 31/10/2019, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cả nước có 211.981 người nhiễm HIV hiện đang còn sống và 103.426 người nhiễm HIV đã tử vong. Tring 10 tháng đầu năm 2019, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 8.479 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân tử vong 1.496 trường hợp. Số người mới 6 phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (40,1%) và 30-39 (33,8%).
Đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục không an toàn (67,2%) và qua đường máu (16,6%), mẹ sang con 1,8%, còn lại không có thông tin về đường lây truyền [28]. Sau khi phân tích về sự phân bố người nhiễm HIV theo giới vào năm 2014 tỷ lệ năm giời chiếm 67,7% hơn nữa giới chiếm 32,4%. Kết quả này thấy ko có sự thay đổi về phân bổ giới của người nhiễm HIV so với năm 2013 [2]. Biểu đồ 1: Phân bố người nhiễm HIV theo giới qua các năm (Nguồn Cục phòng, chống HIV/AIDS năm 2014) Phân tích theo nhóm tuổi thì số người nhiễm HIV được báo cáo trong năm 2012 vẫn tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39; trong đó, nhóm 20-29 tuổi chiếm 35,1% giảm khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2011, nhóm 30-39 tuổi chiếm 44,6% tăng gần 2% so với năm 2011.
Xu hướng nhiễm HIV có hoán đổi nhỏ giữa hai nhóm tuổi 20-29 và nhóm 30-39, theo đó số nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 30-39 đang có xu hướng tăng, trong khi ở nhóm tuổi 20-29 có xu hướng giảm nhẹ. Thang Long University Library 7 Biều đồ 2: Phân bố người nhiễm HIV theo nhóm tuổi qua các năm (Nguồn Cục phòng chống HIV/AIDS năm 2014) Tỷ lệ người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy vẫn chiếm chủ yếu, đang có xu hướng giảm dần từ 2008 đến 2012, tuy nhiên trong năm 2013, tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện báo cáo là người nghiện chích ma túy có tăng nhẹ, chiếm 39,2% và trong quý 1 năm 2014 tỷ lệ này giảm chỉ chiến 34,1%. Ngược lại, tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện là đối tượng tình dục khác giới có xu hướng gia tăng, trong giai đoạn từ 2007-2012. Tuy nhiên, trong quý 1 năm 2014 phân bố người nhiễm HIV được phát hiện và báo cáo là đối tượng tình dục khác giời giảm còn 19,2%.
Các nhóm còn lại chiếm một tỷ lệ thấp [2]. 8 Biểu đồ 3: Tỷ lệ ca nhiễm HIV, AIDS và tử vong từ năm 2000- tháng 6/2012 1.6 Đặc điểm lâm sàng của người nhiễm HIV/AIDS a. Phân chia giai đoạn lâm sàng Tiến triển từ khi bị nhiễm HIV đến AIDS và tử vong là một quá trình kéo dài, với các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Đến nay, có nhiều phân loại lâm sàng nhiễm HIV/AIDS.
- Theo tiến triển tự nhiên của bệnh, nhiễm HIV/AIDS diễn ra qua các giai đoạn sau: + Nhiễm trùng cấp ban đầu (hội chứng chuyển đổi huyết thanh cấp diễn). + Bệnh HIV giai đoạn sớm (giai đoạn thầm lặng). + Bệnh HIV giai đoạn trung gian. + Bệnh HIV giai đoạn muộn.
+ Bệnh HIV giai đoạn quá muộn. + Bệnh HIV giai đoạn tận cùng Định nghĩa bệnh nhân AIDS bao gồm những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng chỉ điểm AIDS và/hoặc những bệnh nhân có số lượng TCD4 < 200 tế bào/mm3 máu. - Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh được chẩn đoán theo 4 giai đoạn: I, II, III và IV. Thang Long University Library 9 b.
Phân loại giai đoạn lâm sàng nhiễm HIV ở người lớn (>13 tuổi) theo WHO và Bộ Y tế Việt Nam 2011 [49] Giai đoạn I -Nhiễm HIV không có triệu chứng lâm sàng - Bệnh lý hạch lympho toàn thân dai dẳng. - Hội chứng nhiễm retro vius cấp tính Giai đoạn II - Sút cân vừa không rõ nguyên nhân (dưới 10% trọng lượng cơ thể). - Nhiễm trùng đường hô hấp trên (viêm xoang, viêm amidan, viêm tai giữa, viêm hầu họng). - Viêm khóe miệng - Loét miệng tái diễn - Ban dát sẩn ngứa - Viêm da bã nhờn - Nhiễm nấm miệng Giai đoạn III - Sút cân nặng không rõ nguyên nhân (trên 10% trọng lượng cơ thể).
- Tiêu chảy không rõ nguyên nhân trên 1 tháng. - Sốt kéo dài trên 1 tháng không rõ nguyên nhân (từng đợt hoặc liên tục). - Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn.