CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ 1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT Theo Luật thuế giá trị gia tăng 2008 của Việt Nam thì “Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”1. Khái niệm về Thuế GTGT theo Luật thuế GTGT của Việt Nam cũng tương đồng với thế giới.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được tính dựa trên phần giá trị mới tạo ra (GTGT) trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý thuế GTGT là xác định chính xác GTGT ở từng giai đoạn sản xuất kinh doanh, để có thể tính toán chính xác số thuế GTGT của giai đoạn đó. Đặc trưng của thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu áp dụng cho đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng. Đối với các cơ sở kinh doanh, đây là loại thuế gián thu.
Thuế GTGT là một phần của giá cả hàng hóa và dịch vụ, thuế được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp. Tính chất gián thu của thuế GTGT thể hiện qua việc người mua hàng hóa, dịch vụ phải trả thuế này thông qua giá mua và người tiêu dùng không trực tiếp nộp thuế GTGT vào ngân sách nhà nước mà trả thuế qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán đã bao gồm cả khoản thuế GTGT. Người bán sau đó thực hiện nghĩa vụ nộp khoản thuế GTGT “đã được người mua trả” vào ngân sách nhà nước. - Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được áp dụng đối với phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán của hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo nguyên tắc, chỉ cần thu thuế ở giai đoạn bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định giai 1 Điều 2 Luật Thuế GTGT 2008, sửa đổi 2013,2014 và 2016 (VBHN 01/VBHN-VPQH/2016 về Luật Thuế GTGT) 5 đoạn bán hàng cuối cùng so với giai đoạn bán hàng trung gian gặp khó khăn. Do đó, thuế GTGT phải được tính ở mỗi lần mua hàng.
Số thuế GTGT ở các giai đoạn trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở các giai đoạn sau, và người tiêu dùng cuối cùng sẽ phải trả toàn bộ số thuế GTGT trên hàng hóa đó. Tổng số thuế mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Trước khi áp dụng thuế GTGT, thuế Doanh thu là loại thuế gián thu được đánh dựa trên doanh thu từ hoạt động kinh doanh công – thương mại – dịch vụ mỗi khi có phát sinh doanh thu bán hàng. Doanh thu chịu thuế bao gồm toàn bộ tiền bán hàng, bán tài sản, tiền gia công, cước phí vận chuyển, dịch vụ, hoa hồng sau khi bán hàng, cũng như các khoản trả hàng gia công và cung ứng dịch vụ, không trừ chi phí và đã hạch toán vào kết quả hoạt động tiêu thụ, không phân biệt đã thu tiền hay chưa.
Theo Luật thuế doanh thu, doanh thu phát sinh là cơ sở để thu nộp thuế, do đó toàn bộ doanh thu phát sinh từ sản phẩm qua mỗi giai đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ đều bị đánh thuế. Số lượng khâu càng nhiều thì số thuế càng tăng, dễ dẫn đến tình trạng thuế chồng thuế và thu thuế trùng lặp với doanh thu đã chịu thuế ở các giai đoạn trước. So với thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng GTGT có nhiều ưu điểm hơn. Thuế doanh thu đánh trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm trong mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Khi hàng hóa, sản phẩm chịu thuế qua nhiều khâu, số thuế mà Nhà nước thu được cũng tăng theo từng khâu, dẫn đến tình trạng thu thuế trùng lặp trên phần doanh thu đã chịu thuế ở các giai đoạn trước. Điều này gây ra sự bất hợp lý và ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thuế GTGT, với đặc điểm của mình, đã khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là hiện tượng "thuế chồng lên thuế. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao.
Tính trung lập của thuế GTGT biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng (GTGT) không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, vì người nộp thuế chỉ thực hiện nghĩa vụ "thay mặt" người tiêu dùng để nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi cách tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh. Tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, không phụ thuộc vào số lượng giai đoạn trong quá trình sản xuất và lưu thông. 6 Về phạm vi áp dụng thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, không áp dụng đối với tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Đặc điểm này đảm bảo sự công bằng trong các giao dịch quốc tế bằng cách không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Các phương pháp xác định thuế GTGT 1. Phương pháp khấu trừ thuế Đối tượng áp dụng: các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn và chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán và thuế. Và các cơ sở này phải đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.
Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp = số thuế giá trị gia tăng đầu ra - số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ. Số thuế GTGT đầu ra được ghi trên hoá đơn GTGT của hàng hoá, dịch vụ được bán ra và bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng. Trong trường hợp giá thanh toán đã bao gồm thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra sẽ được xác định bằng giá thanh toán trừ đi giá tính thuế. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa bao gồm thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán.
Nếu hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán (trừ trường hợp sử dụng chứng từ đặc thù), không ghi giá chưa bao gồm thuế và thuế GTGT, thì thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra sẽ được tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn hoặc chứng từ. - Thuế GTGT đầu vào được tính bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) sử dụng cho sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Nó cũng bao gồm số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam và cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh hoặc thu nhập phát sinh tại Việt Nam, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam đã quy định rõ ràng cách xác định thuế GTGT đầu vào cho các trường hợp cụ thể, nhằm hỗ trợ công tác quản lý thuế.
Trong thực tế, đối với nhiều loại sản phẩm hàng hóa có đặc thù riêng, hệ thống pháp luật về thuế GTGT cũng cung cấp hướng dẫn chi tiết để xác định thuế 7 phù hợp cho từng trường hợp cụ thể. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. * Đối tượng áp dụng: (1) Cá nhân, HKD không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; (2) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. (3) Đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hoá, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển và khai thác mỏ dầu, khí đốt, bên Việt Nam chịu trách nhiệm khấu trừ và nộp thay theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định.
(4) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. (5) Hoạt động kinh doanh mua bán, vàng, bạc, đá quý. * Xác định thuế GTGT phải nộp: Số thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đó. - GTGT của hàng hoá, dịch vụ = giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ (-) giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng.
- Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu được tiền. Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng. Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau: - Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh số bán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định như sau: Giá vốn hàng bán ra bằng (=) Doanh số tồn đầu kỳ cộng (+) doanh số mua trong kỳ trừ (-) doanh số tồn cuối kỳ.