Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, cá rô phi là đối tượng nuôi phổ biến nhờ khả năng thích ứng rộng với nhiều loại hình thủy vực (ao, hồ, sông, suối, ruộng, lồng bè), sống được trong môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn, đồng thời có phổ thức ăn rộng, ít dịch bệnh và thịt có chất lượng thương phẩm tốt. Về đặc điểm sinh học sinh trưởng, cá rô phi đực có tốc độ lớn nhanh hơn rõ rệt so với cá cái. Khi nuôi thương phẩm đàn cá không phân hóa giới tính, sự thành thục sinh dục sớm và sinh sản tự nhiên không kiểm soát trong ao dẫn đến tình trạng cạnh tranh thức ăn, làm cá chậm lớn và giảm hiệu quả kinh tế. Do đó, nhu cầu sử dụng cá giống rô phi đơn tính đực trong sản xuất thủy sản là rất lớn.
Tại khu vực miền Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, điều kiện mùa đông lạnh kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến chu kỳ sinh sản và khả năng sản xuất giống cá rô phi sớm đầu vụ. Việc phải nhập cá giống từ miền Nam hoặc các vùng nước ấm làm tăng chi phí vận chuyển và giá thành con giống. Việc áp dụng kỹ thuật chuyển đổi giới tính nhân tạo bằng hormone 17α-Methyltestosterone qua đường thức ăn được đánh giá là giải pháp kỹ thuật có tính khả thi cao, thao tác tương đối đơn giản và phù hợp với điều kiện cơ sở sản xuất tại địa phương. Nhằm khẳng định lại kết quả chuyển đổi giới tính, giảm bớt công đoạn kỹ thuật, tiết kiệm chi phí đầu tư thiết bị ấp và chủ động cung ứng giống tại chỗ, tác giả Đinh Văn Hiển đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Hoàn thiện công nghệ sản xuất cá giống rô phi đơn tính đực bằng hormone 17α Methyltestosterone tại tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản gồm:
- Ứng dụng thành công công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng hormone 17α-Methyltestosterone.
- Đạt tỷ lệ đực trong quần đàn sau xử lý đạt $\ge 90%$.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus dòng NOVIT 4 (Norwegian – Vietnamese Tilapia, 2004).
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát và thực nghiệm kỹ thuật trên các giai đoạn phát triển từ cá bố mẹ sinh sản, cá bột tiêu hết noãn hoàng, cá 21 ngày tuổi sau xử lý hormone đến giai đoạn ương lên cá hương và cá giống.
- Không gian thực hiện: Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ nuôi trồng thủy sản vùng Đông Bắc thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian tiến hành: Từ ngày 05/01/2015 đến ngày 24/05/2015.
Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học và đặc điểm sinh học đối tượng nghiên cứu
Cá rô phi thuộc bộ cá vược Perciformes, họ Cichlidae. Dòng cá sử dụng trong nghiên cứu là dòng NOVIT 4 (chọn giống từ dòng GIFT qua dự án nâng cao năng lực nghiên cứu, khuyến ngư và đào tạo NORAD của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I). Đối tượng này mang các đặc tính sinh học chủ yếu:
- Đặc điểm hình thái và phân biệt giới tính: Toàn thân phủ vảy, lưng xám nhạt, bụng xanh nhạt, vây đuôi có các sọc đen đậm song song. Con đực có màu sắc sặc sỡ hơn, vây lưng và hầu phớt đỏ, phần phụ sinh dục hình chóp nhọn gồm 2 lỗ (lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn). Con cái có màu nhạt hơn, hàm dưới trề do ngậm trứng, phần phụ sinh dục hình chóp bầu dẹt có 3 lỗ tách biệt (lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn).
- Ngưỡng nhiệt độ: Giới hạn sống từ 8 – 42°C, thích hợp nhất từ 28 – 30°C. Dưới 20°C kéo dài cá giảm ăn, dưới 14°C cá đực mất khả năng tiết sẹ.
- Ngưỡng pH và dưỡng khí: Dao động thích hợp từ 6,5 – 8,5 (giới hạn chịu đựng 3,5 – 12,0). Hàm lượng oxy hòa tan (DO) tối thiểu cá chịu được là 1,0 mg/l, nhưng phát triển chậm nếu DO kéo dài dưới mức tối ưu; dưới 0,7 mg/l cá không thể tồn tại lâu dài.
- Tập tính sinh sản: Cá đực và cá cái cùng đào tổ hình lòng chảo ở nền đáy cứng. Sau khi cá cái đẻ trứng và cá đực thụ tinh, cá cái hút toàn bộ trứng vào khoang miệng để đảo đều và ấp. Thời gian trứng nở sau 4 ngày ở nhiệt độ 24 – 26°C. Cá mẹ tiếp tục ấp con non trong miệng đến khi tiêu hết noãn hoàng và nhịn ăn hoàn toàn trong suốt chu kỳ này.
Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng
Nghiên cứu áp dụng các quy định kỹ thuật chuyên ngành thủy sản:
- Tiêu chuẩn ngành 27 TCN: Quy chuẩn chuẩn bị và quản lý ao xử lý cá bột.
- Tiêu chuẩn ngành 28 TCN-64-79: Quy chuẩn cải tạo và chuẩn bị ao ương nuôi từ cá 21 ngày tuổi lên cá hương.
Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm
Thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua ba công đoạn liên hoàn:
-
Kỹ thuật sản xuất cá bột trực tiếp tại ao:
Sử dụng ao đất diện tích 1.600 m², độ sâu mức nước 1,2 – 1,5 m, được khử trùng đáy bằng vôi bột liều lượng 7 – 10 kg/100 m². Ao được ngăn đôi bằng lưới cao 1,5 m với kích thước mắt lưới 1 cm. Một ô diện tích 800 m² (mực nước 0,8 – 1,0 m) thả cá bố mẹ dòng NOVIT 4 (trọng lượng 350 – 450 g/con) để đẻ tự nhiên với tỷ lệ ghép 1,5 đực : 2 cái, mật độ 2 – 4 con/m². Nuôi vỗ cá bố mẹ bằng thức ăn công nghiệp Cargill độ đạm > 27%, khẩu phần 2 – 3% trọng lượng thân/ngày. Ô 800 m² còn lại dùng làm không gian để thu cá bột sau khi nở bơi tràn qua mắt lưới sang bờ đối diện vào sáng sớm hoặc chiều mát bằng lưới mịn (mắt lưới 0,001 m).
-
Quy trình xử lý chuyển đổi giới tính bằng hormone:
- Thức ăn xử lý gồm bột cá nhạt mịn phối trộn vitamin C (tỷ lệ 10 g vitamin C/1.000 g bột cá).
- Công thức phối trộn: Hòa tan 60 mg hormone 17α-Methyltestosterone trong 0,5 lít cồn ethanol 96°, sau đó phun trộn đều vào 1 kg thức ăn bột cá đã có vitamin C. Hỗn hợp được phơi trong bóng râm cho bay hết cồn hoàn toàn trước khi đóng gói bảo quản.
- Mật độ xử lý cá bột trong ao: 10 – 15 con/lít.
- Chế độ cho ăn: Kéo dài 21 ngày liên tục kể từ khi cá tiêu hết noãn hoàng, chia làm 6 lần/ngày (vào các khung giờ: 7h, 9h, 11h, 13h, 15h, 17h). Thức ăn được đưa xuống sát mặt nước xung quanh bờ ao bằng sào dài 3 m có gắn gáo múc chuyên dụng để chống thất thoát do gió.
- Định mức khẩu phần theo chu kỳ: 5 ngày đầu (25% khối lượng đàn), 5 ngày tiếp theo (20%), 5 ngày kế tiếp (15%), 6 ngày cuối cùng (10%). Vào ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ, tiến hành cân mẫu tối thiểu 200 cá thể để điều chỉnh lượng thức ăn theo công thức:
$$A = \frac{(P \times k) \times q}{200}$$
(Trong đó: A là khối lượng thức ăn chu kỳ sau; P là khối lượng mẫu 200 con; k là số lượng cá thả ban đầu; q là tỷ lệ % thức ăn theo quy trình).
-
Ương cá 21 ngày tuổi lên cá hương và cá giống:
Ao ương có diện tích 500 – 1.000 m², sâu 1,0 – 1,5 m, tẩy vôi 7 – 10 kg/100 m², phơi đáy 3 – 5 ngày, lấy nước qua lưới lọc. Mật độ thả cá 21 ngày tuổi từ 100 – 150 con/m². Cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp Cargill (độ đạm 27 – 35%) với khẩu phần 7 – 10% khối lượng thân/ngày (cho ăn 2 lần/ngày). Khi cá đạt kích thước cá giống, chuyển sang khẩu phần 5% với thức ăn có hàm lượng đạm 25 – 30%, chia 3 lần/ngày (8h, 13h, 16h).
-
Phương pháp xác định tỷ lệ đực:
Sử dụng kỹ thuật làm tiêu bản ép mô tuyến sinh dục nhuộm dung dịch Aceto-Carmin (0,5 g bột Carmin đun sôi trong 100 ml axit acetic 45% từ 2 – 4 phút rồi lọc nguội). Thu mẫu 3 đợt ngẫu nhiên, mỗi đợt 100 cá thể (tổng số 300 con cá giống cỡ > 3 g/con, độ tuổi 50 – 60 ngày sau nở). Tuyến sinh dục được tách dọc cột sống, đặt lên lam kính, nhuộm dung dịch Aceto-Carmin và quan sát dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần. Tiêu bản cá đực xuất hiện cấu trúc hạt mịn, phân bố đều; tiêu bản cá cái hiển thị nhiều tế bào dạng hình cầu kích thước không đồng đều. Tỷ lệ cá đực được tính theo công thức:
$$\text{Tỷ lệ cá đực (%)} = \frac{\text{Số cá đực xác định}}{\text{Tổng số cá mổ khảo sát}} \times 100$$
-
Theo dõi môi trường và xử lý số liệu:
Đo đạc 2 lần/ngày (sáng: 7 – 8h; chiều: 13 – 14h) các chỉ tiêu: nhiệt độ nước (nhiệt kế thủy ngân chia vạch 0 – 100°C), pH (máy đo pH điện tử) và oxy hòa tan (máy đo DO). Số liệu được tổng hợp và tính toán giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$) bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2003 và phần mềm thống kê sinh học SPSS.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực tại tỉnh Thái Nguyên, xác định mục tiêu đạt tỷ lệ đực $\ge 90%$, đồng thời nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế thủy sản tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa nguồn gốc phân loại học, ngưỡng sinh thái nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, phổ dinh dưỡng và đặc điểm sinh sản ấp trứng trong khoang miệng của cá rô phi O. niloticus. Tác giả tổng hợp số liệu về sản lượng sản xuất, xuất khẩu cá rô phi trên thế giới (điển hình tại Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Hoa Kỳ) và lịch sử di nhập các dòng cá rô phi vào Việt Nam từ năm 1951 đến các thế hệ chọn giống NOVIT 4 năm 2014.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Văn bản mô tả chi tiết địa điểm, thời gian thí nghiệm, tiêu chuẩn ao nuôi vỗ, phương pháp ngăn đôi ao 1.600 m² để thu cá bột tự nhiên, công thức phối chế hormone 17α-Methyltestosterone với thức ăn bột cá, quy trình định lượng khẩu phần 21 ngày, kỹ thuật quản lý phòng trừ 4 loại bệnh thường gặp (nấm thủy mi, xuất huyết, nấm mang, trùng bánh xe) và phương pháp giải phẫu nhuộm Aceto-Carmin xác định giới tính.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương tập trung vào hai mảng chính:
- Công tác phục vụ sản xuất: Thống kê hoạt động thực tập tại Trung tâm vùng Đông Bắc gồm tham gia cho đẻ 3 đợt cá Bỗng (tổng cộng 19 cặp cá bố mẹ nhưng chưa thành công do tuyến sinh dục cá còn non), thu ấp 3 đợt trứng ba ba trơn (tổng số 4.485 quả trứng, nở được 1.672 con non ở 2 đợt đầu), thu 2 đợt cá rô phi bột (tổng 33 vạn con), cải tạo 11.500 m² ao, khử trùng vôi bột 17.300 m² và trồng 1.800 m² cỏ VA06.
- Kết quả thực nghiệm công nghệ: Trình bày diễn biến các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ cá bố mẹ từ tháng 01 đến tháng 03/2015; năng suất thu cá bột ở 2 đợt thu; các chỉ số nhiệt độ, DO, pH trong 21 ngày xử lý thức ăn trộn hormone; tỷ lệ sống giai đoạn cá bột lên cá 21 ngày; tỷ lệ sống giai đoạn ương lên cá hương và kết quả kiểm tra giới tính cá giống. Khóa luận sơ đồ hóa công nghệ sản xuất qua 4 khâu: Nuôi vỗ cá bố mẹ và chăm sóc sinh sản $\rightarrow$ Thu cá bột $\rightarrow$ Xử lý giới tính cá bột $\rightarrow$ Ương nuôi lên cá hương, cá giống.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Khóa luận đúc kết các kết quả đạt được về tỷ lệ chuyển giới tính, tính ưu việt của phương pháp thu cá bột trong ao ngăn đôi so với ấp khay nhân tạo, đồng thời đưa ra 5 kiến nghị kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất con giống.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực nghiệm chính của đề tài
- Biến động môi trường ao nuôi vỗ cá bố mẹ:
Nhiệt độ nước đầu mùa vụ (tháng 01 – tháng 02) ở mức rất thấp, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thành thục tuyến sinh dục của đàn cá bố mẹ:
| Tháng theo dõi |
Nhiệt độ sáng (°C) |
Nhiệt độ chiều (°C) |
DO sáng (mg/l) |
DO chiều (mg/l) |
pH sáng |
pH chiều |
| Tháng 01/2015 |
12,83 ± 0,60 |
13,91 ± 0,61 |
3,53 ± 0,22 |
4,19 ± 0,40 |
7,46 ± 0,23 |
7,73 ± 0,27 |
| Tháng 02/2015 |
16,26 ± 0,77 |
17,35 ± 0,78 |
4,47 ± 0,25 |
4,92 ± 0,36 |
7,35 ± 0,18 |
7,80 ± 0,27 |
| Tháng 03/2015 |
18,38 ± 2,49 |
20,22 ± 2,15 |
4,72 ± 0,35 |
5,23 ± 0,33 |
7,55 ± 0,21 |
7,80 ± 0,20 |
- Năng suất thu nhận cá rô phi bột qua các đợt:
Năng suất cá bột đợt 1 đạt thấp do thời tiết tháng 3 còn lạnh, nhưng đã tăng mạnh ở đợt 2 khi nền nhiệt cải thiện:
| Đợt thu |
Thời gian |
Khối lượng cá cái (kg) |
Số cá bột thu được (con) |
Năng suất cá bột (con/kg cá cái) |
| Đợt 1 |
22/03/2015 |
1.300 |
244.000 |
187,7 |
| Đợt 2 |
15/04/2015 |
1.300 |
618.000 |
662,3 |
- Thông số môi trường trong quá trình xử lý hormone 21 ngày tuổi (23/03 – 12/04/2015):
- Nhiệt độ nước: Buổi sáng đạt 21,80 ± 1,12°C; buổi chiều đạt 22,72 ± 0,98°C (chênh lệch nhiệt độ giữa sáng và chiều xấp xỉ 1°C).
- Hàm lượng oxy hòa tan (DO): Buổi sáng đạt 4,14 ± 0,30 mg/l; buổi chiều đạt 5,05 ± 0,37 mg/l (ổn định > 4,1 mg/l, đảm bảo nhu cầu hô hấp).
- Độ pH: Buổi sáng đạt 7,40 ± 0,15; buổi chiều đạt 7,74 ± 0,34.
- Tỷ lệ sống và tỷ lệ chuyển đổi giới tính đực:
- Giai đoạn xử lý giới tính 21 ngày: Số lượng cá bột thả ban đầu là 284.000 con, số cá 21 ngày tuổi thu được là 236.400 con, tỷ lệ sống đạt 83,22%.
- Giai đoạn ương từ cá 21 ngày tuổi lên cá hương: Số lượng cá thả là 196.000 con, số cá hương thu được đạt 163.660 con, tỷ lệ sống đạt 83,50%.
- Kết quả kiểm tra giới tính bằng phương pháp mổ nhuộm Aceto-Carmin trên 300 cá thể:
| Đợt kiểm tra |
Số cá kiểm tra (con) |
Số cá đực (con) |
Số cá cái (con) |
Tỷ lệ cá đực (%) |
| Đợt 1 |
100 |
93 |
7 |
93,00 |
| Đợt 2 |
100 |
94 |
6 |
94,00 |
| Đợt 3 |
100 |
94 |
6 |
94,00 |
| Tổng số |
300 |
281 |
19 |
93,66 |
Đóng góp kỹ thuật do tác giả tự nêu
- Hoàn thiện giải pháp kỹ thuật cho cá bố mẹ tự ấp trứng trong miệng và thu cá bột trực tiếp tại ao ngăn đôi, giúp loại bỏ khâu kéo lưới bắt cá bố mẹ kiểm tra trứng định kỳ, hạn chế xây xát đàn cá sinh sản.
- Giảm chi phí đầu tư mua sắm hệ thống bình vây, khay ấp nhân tạo, không phát sinh hao hụt do phải loại bỏ trứng hỏng ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2, đồng thời giảm hiện tượng cá bột bị dị hình so với công nghệ ấp nhân tạo.
- Khẳng định khả năng ứng dụng quy trình chuyển đổi giới tính bằng hormone 17α-Methyltestosterone đạt tỷ lệ đực 93,66% (vượt mục tiêu $\ge 90%$) trong điều kiện sản xuất thực tế tại tỉnh Thái Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện tự nhiên và thiết bị thực nghiệm:
- Yếu tố thời tiết rét lạnh kéo dài trong các tháng đầu năm (tháng 1 – tháng 3) làm chậm sự phát triển tuyến sinh dục của đàn cá bố mẹ, khiến năng suất cá bột đợt 1 đạt thấp (187,7 con/kg cá cái).
- Vào những thời điểm thời tiết âm u, mưa lạnh, cá bột giảm bắt mồi hoặc ăn không hết lượng thức ăn có phối trộn hormone, dẫn đến việc tỷ lệ đực hóa chỉ đạt 93,66%, chưa thể đạt mức tối đa.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và dụng cụ chuyên dụng phục vụ công tác thí nghiệm, sản xuất tại trung tâm còn cần được đầu tư bổ sung thêm.
Các đề xuất kỹ thuật được tác giả kiến nghị bao gồm:
- Tuyển chọn kỹ đàn cá bố mẹ tham gia sinh sản đảm bảo cùng kích cỡ và độ tuổi để cá đẻ tập trung, tạo ra các lô cá bột đồng đều kích thước.
- Chú trọng kiểm soát nguồn nước cấp vào hệ thống ao xử lý và ao ương, ngăn chặn triệt để địch hại và chất ô nhiễm.
- Thực hiện khâu cải tạo ao ban đầu thật kỹ lưỡng từ khâu tháo cạn, phơi đáy đến bón vôi khử trùng trước khi thả cá bột xử lý và ương lên cá hương.
- Đảm bảo chất lượng hormone 17α-Methyltestosterone và thể trạng khỏe mạnh của cá bột để nâng cao tỷ lệ sống cũng như tỷ lệ chuyển giới tính.
- Mở rộng chuyển giao quy trình công nghệ này cho các cơ sở sản xuất giống thủy sản tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận cung cấp các dữ liệu kỹ thuật hữu ích cho:
- Kỹ sư thủy sản, cán bộ kỹ thuật tại các trạm, trại thực nghiệm sản xuất giống cá nước ngọt khu vực trung du và miền núi phía Bắc trong việc xây dựng lịch thời vụ nuôi vỗ cá bố mẹ phù hợp với diễn biến nhiệt độ đầu xuân.
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, Bệnh học thủy sản, Chăn nuôi Thú y tham khảo quy trình phối trộn hormone 17α-Methyltestosterone (nồng độ 60 mg/0,5 lít ethanol/kg thức ăn), quy trình chia nhỏ khẩu phần 6 lần/ngày bằng dụng cụ sào dài, và phương pháp mổ nhuộm Aceto-Carmin chẩn đoán giới tính cá con dưới kính hiển vi.
- Các mô hình kinh tế nông hộ muốn tối ưu hóa chi phí sản xuất giống rô phi thông qua giải pháp ngăn đôi ao đẻ tự nhiên để thu cá bột trực tiếp, thay thế cho hệ thống ấp trứng nhân tạo đòi hỏi vốn đầu tư thiết bị cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Nồng độ hormone 17α-Methyltestosterone và phương pháp phối trộn thức ăn được tiến hành như thế nào?
Theo quy trình thực nghiệm, công thức phối trộn gồm: 60 mg hormone 17α-Methyltestosterone được hòa tan hoàn toàn trong 0,5 lít cồn ethanol 96°. Dung dịch này được phối trộn đều với 1 kg thức ăn bột cá nhạt mịn đã được bổ sung trước 10 g vitamin C. Sau khi trộn đều, thức ăn được phơi trong bóng râm (tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp) cho đến khi cồn bay hơi hoàn toàn rồi đóng bao bì kín bảo quản sử dụng.
2. Tỷ lệ chuyển đổi giới tính đực của cá rô phi trong nghiên cứu đạt kết quả bao nhiêu và kiểm tra bằng cách nào?
Kết quả kiểm tra giới tính trên 300 con cá giống (độ tuổi 50 – 60 ngày sau nở, trọng lượng > 3 g/con, chia làm 3 đợt ngẫu nhiên, mỗi đợt 100 con) ghi nhận có 281 con cá đực và 19 con cá cái, đạt tỷ lệ cá đực trung bình 93,66%. Phương pháp kiểm tra là kỹ thuật mổ tế bào học: tách mô tuyến sinh dục, nhuộm bằng dung dịch Aceto-Carmin (0,5 g Carmin đun sôi trong 100 ml axit acetic 45%) và soi dưới kính hiển vi độ phóng đại 100 lần để quan sát cấu trúc hạt mịn đặc trưng của tuyến tinh.
3. Giải pháp kỹ thuật thu cá bột tại ao ngăn đôi có điểm gì khác biệt so với kỹ thuật thu trứng ấp khay truyền thống?
Thay vì định kỳ phải kéo lưới bắt giữ đàn cá bố mẹ để kiểm tra miệng, vét trứng nhân tạo và đưa vào hệ thống bình vây/khay ấp tốn kém chi phí, nghiên cứu dùng lưới cao 1,5 m (mắt lưới 1 cm) ngăn đôi ao 1.600 m². Cá mẹ tự ấp trứng trong khoang miệng cho đến khi cá con nở và tiêu hết noãn hoàng (sau khoảng 4 ngày nở ở 24 – 26°C cộng thêm vài ngày ngậm con non). Cá bột khi bơi được sẽ tự động bơi tản sang ô đối diện để kiếm ăn quanh bờ và được thu trực tiếp bằng lưới mịn, giúp giảm chi phí thiết bị ấp, giảm tỷ lệ cá bột dị hình và không gây xây xát cá bố mẹ.
4. Tỷ lệ sống của cá rô phi trong giai đoạn xử lý 21 ngày và giai đoạn ương lên cá hương đạt mức nào?
Trong giai đoạn xử lý hormone 21 ngày tuổi (mật độ xử lý 10 – 15 con/lít), số lượng cá bột thả là 284.000 con, thu được 236.400 con cá 21 ngày, tỷ lệ sống đạt 83,22%. Ở giai đoạn ương tiếp theo từ cá 21 ngày tuổi lên cá hương trong ao đất (mật độ 100 – 150 con/m²), số cá thả là 196.000 con, thu được 163.660 con cá hương, tỷ lệ sống đạt 83,50%.
5. Yếu tố nhiệt độ môi trường đã tác động như thế nào đến kết quả sinh sản của cá bố mẹ tại Thái Nguyên?
Nhiệt độ nước trong tháng 01/2015 đo được dao động từ 12,83 – 13,91°C, tháng 02/2015 từ 16,26 – 17,35°C, tháng 03/2015 từ 18,38 – 20,22°C. Nền nhiệt độ thấp kéo dài trong giai đoạn nuôi vỗ đã kìm hãm quá trình thành thục của tuyến sinh dục cá bố mẹ. Hệ quả là ở đợt thu cá bột đầu tiên ngày 22/03/2015, năng suất chỉ đạt 187,7 con cá bột/kg cá cái. Đến đợt thu thứ hai ngày 15/04/2015 khi nhiệt độ nước ấm lên, năng suất thu cá bột đã tăng lên mức 662,3 con/kg cá cái.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đinh Văn Hiển đã ứng dụng và hoàn thiện thành công quy trình kỹ thuật sản xuất cá giống rô phi vằn NOVIT 4 đơn tính đực tại tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ đực đạt 93,66% bằng hormone 17α-Methyltestosterone ở liều lượng 60 mg/kg thức ăn trong 21 ngày. Phương pháp nuôi vỗ ghép đẻ tự nhiên kết hợp ngăn đôi ao thu cá bột trực tiếp đã chứng minh hiệu quả giảm thiểu chi phí đầu tư thiết bị ấp trứng, giảm hao hụt do xây xát cá bố mẹ và giảm tỷ lệ cá dị hình so với kỹ thuật ấp khay nhân tạo. Nghiên cứu phản ánh đầy đủ các số liệu thực nghiệm về biến động môi trường đầu vụ miền Bắc, tỷ lệ sống qua các giai đoạn phát triển và cung cấp quy trình kỹ thuật có giá trị ứng dụng cao cho nghề nuôi trồng thủy sản tại địa phương.