Đặt vấn đề Trong những năm gần đây lợi nhuận kinh tế đem lại cho người dân từ việc nuôi cá là khá cao, với diện tích mặt nước dành cho nuôi trồng thuỷ sản ngày một lớn, nhu cầu về cá giống tăng nhanh, nhất là loại cá rô phi đơn tính đực. Hiện nay cá rô phi được nuôi rộng rãi trong cả nước và là một trong những đối tượng đã và đang được chú ý phát triển mạnh trong nuôi trồng thuỷ sản. Do cá rô phi là một loại cá ăn tạp, dễ nuôi, chúng có thể phát triển trong các loại hình mặt nước như ao, hồ, sông, suối, ruộng, lồng bè và có thể sống trong môi trường nước ngọt, nước lợ, nước biển. Cá ít dịch bệnh, có thể nuôi với mật độ dầy.
Thịt cá rô phi được đánh giá là có chất lượng cao, thơm ngon, ít xương, trọng lượng cá thể vừa phải thích hợp cho việc chế biến và sử dụng thuận tiện trong gia đình. Trong quá trình nuôi cá rô phi, phần lớn cá đực có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá cái. Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về chọn giống, lai tạo, xử lý bằng hormone 17α Methyltestosterone để tạo ra thế hệ con nhiều đực đưa vào nuôi cá thương phẩm. Hiện nay phương pháp chuyển giới tính bằng hormone là phương pháp được áp dụng nhiều nhất vì nó đơn giản, hiệu quả và có thể áp dụng rộng rãi trong các cơ sở sản xuất.
Nhằm khẳng định lại kết quả chuyển giới tính bằng hormone 17α Methyltestosterone, giảm được công đoạn tiến hành, hạn chế được kinh phí trong sản xuất, nâng cao về số lượng cá bột và chủ động cung cấp con giống trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: n 2 “Hoàn thiện công nghệ sản xuất cá giống rô phi đơn tính đực bằng hormone 17α Methyltestosterone tại tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài - Ứng dụng thành công công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng hormone 17 Methyltestosterone. - Đạt tỷ lệ đực trong quần đàn ≥ 90 %.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Hoàn thiện bổ sung công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằng hormone 17 Methyltestosterone. Ý nghĩa trong thực tiễn Tạo ra giống cá năng suất có giá trị kinh tế cao, góp phần tạo công ăn việc làm phát triển kinh tế vùng nông thôn cho người nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các vùng lân cận. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Phân bố tự nhiên và sự di nhập cá rô phi trên thế giới Cá rô phi thuộc bộ cá vược Percifomes, họ Cichlidae, là loài cá ưa nhiệt độ cao có nguồn gốc từ châu phi. Có khoảng 80 loài cá rô phi đã được phân loại thuộc 3 giống chính: giống Tilapia đẻ trứng dính và có vùng phân bố rất rộng, giống Sarotherodon là tổ đẻ trứng và cá bố hoặc cá mẹ ấp trứng trong miệng (Trewavas,1983) [17]. Trong tự nhiên, cá rô phi sống trong các sông hồ,cửa sông, đầm hồ nước ngọt, lợ, mặn và đôi khi ở cả những vùng đất phèn (Philipart và Ruwet,1982) [16].
Trong 3 giống cá rô phi nói trên có khoảng 8-9 loài cá giá trị kinh tế trong nuôi trồng và sản xuất thủy sản, trong đó cá rô phi vằn O.niloticus, cá rô phi xanh O.aureus và cá rô phi hồng Oreochromis được coi là đối tượng nuôi đạt hiệu quả cao. Ngày nay, do nhiều mục đích sử dụng mà cá rô phi được ưa chuộng và được nuôi với số lượng lớn. đặc biệt cá rô phi có nhiều đặc tính vượt trội so với một số loài cá nước ngọt khác nhau như khả năng lớn nhanh, ngưỡng chịu đựng rộng đối với các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, nồng độ oxy hòa tan,…), sức đề kháng với bệnh tốt, thời gian thành thục sớm và sinh sản tốt nên trở thành đối tượng nuôi của nhiều nước trên thế giới. Hệ thống phân loại cá rô phi: Giới (Regnum): Animalia Ngành (phylum): Chordata Lớp (class): Actinopterygii Bộ (ordo): Perciformes Họ (familia): Cichlidae Chi (genus): Oreochromis Loài (species): O.
Căn cứ một số đặc điểm sinh học của cá rô phi dòng NOVIT4 - Đặc điểm hình thái : Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus có đặc điểm toàn thân phủ vảy, ở phần lưng có màu xám nhạt, phần bụng có màu xanh nhạt. Vây đuôi có sọc đen đậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vây đuôi. Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vây lưng và vây đuôi có viền hồng nhạt (Nguyễn Thị An, 1999) [1].
- Ngưỡng chịu nhiệt: Nguồn gốc của rô phi đã nói lên một phần ngưỡng nhiệt độ của chúng. Tuy nhiên trong nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rô phi O. niloticus có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 8 - 420C. Nghĩa là giới hạn thấp là 80C và giới hạn cao là 420C.
Nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của rô phi là 28 - 300C. Khi nhiệt độ xuống thấp hơn 20 0C kéo dài thì cá giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro về bệnh. Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 14 0C kéo dài làm rô phi đực mất khả năng tiết sẹ (Lê Quang Long, 1961) [5]. n 5 Tuy nhiên, khả năng thích ứng nhiệt của Rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kích cỡ cá và độ mặn của thủy vực.
Với vùng nước lợ 8 - 12‰ chúng có thể tồn tại được ở nhiệt độ 5-60C. Cá bột, cá hương chịu lạnh kém hơn cá trưởng thành và ở môi trường nước lợ cá chịu được mức nhiệt độ thấp tốt hơn trong môi trường nước ngọt do ở môi trường nước lợ khống chế sự phát triển và gây bệnh của nấm lên cá rô phi (Lê Quang Long,1961) [5]. - Ngưỡng pH: Cá rô phi O. niloticus có ngưỡng pH dao động từ 3,5 - 12,0.
Tuy nhiên, pH thích hợp cho sự phát triển và sinh sản đối với chúng từ 6,5 - 8,5, tuy vậy cá có thể chịu đựng môi trường nước có pH giảm xuống 4 và lên cao tới 11. Theo philipart và Ruwet (1982) [16] cá Rô phi chết ở pH là 3,5 hay lớn hơn 12 sau 2 đến 3 giờ. - Ngưỡng Ôxy: Cá rô phi O. niloticus có khả năng chịu đựng được độ hòa tan của ôxy trong thủy vực xuống tới 1mg/lít.
Nhưng ở nồng độ 1mg/lít cá rô phi lớn rất chậm, cá rô phi vẫn có thể sống được nhưng không thể kéo dài khi hàm lượng oxy hòa tan dưới 0,7 mg/l (Blarin và Heller,1982) [11]. - Ngưỡng độ mặn: Cá rô phi O. niloticus có thể chịu đựng được độ mặn khoảng 20‰. Tuy nhiên với độ mặn cao sẽ ảnh hướng tới tốc độ tăng trọng của chúng.
Các thủy vực 10-12‰ vẫn thích hợp cho sự phát triển của loại cá này. - Đặc điểm sinh trưởng: Tốc độ tăng trưởng của O. niloticus phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, môi trường ao nuôi, chế độ dinh dưỡng và phương pháp chăm sóc quản lý (Đỗ Đoàn Hiệp, 2008) [4].
Tuy nhiên tốc độ tăng trọng trung bình khoảng 80 - 100gam/cá thể/tháng, nuôi với mật độ 3-4 con/m2 có bón phân và bổ sung các thức ăn tinh trong khoảng thời gian 5-6 tháng có thể đạt kích cỡ trung bình 480- 500gam/cá thể. (Lê Ngọc Khánh, 2008) [6], cho rằng tố độ tăng trưởng của n 6 con lai ♀ O. niloticus dòng Irsael > ♂ O. aurecus Trung Quốc × ♀ O.
niloticus Đài Loan > ♂ O. - Phổ thức ăn: Cá rô phi là loài cá ăn tạp có phổ thức ăn rộng. Thức ăn của chúng gồm: Động thực vật phù du, giun, côn trùng trong nước, ấu trùng của các loài chân đốt, ấu trùng muỗi, ấu trùng chuồn chuồn. Ngoài ra cá rô phi còn ăn cả thực vật bậc cao như bèo tấm, bèo hoa dâu hoặc thức ăn tổng hợp.
Phổ thức ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển của cá thể. - Đặc điểm sinh sản: Cá rô phi O. niloticus có sự phân biệt đực cái khá rõ rệt về hình thái ngoài khi chúng đạt tuổi phát dục và tham gia sinh sản. Cá đực thường có mầu sắc sặc sỡ hơn cá cái.
Đây chính là hiện tượng khoe mã thường thấy ở nhiều loài động vật khác nhau. Cá đực thường có vây đuôi, vây ngực và vùng hầu có màu đỏ tươi, thậm chí toàn thân cá cũng có màu đỏ. Con cái không có các đặc điểm trên. Những đặc điểm ngoại hình cần quan tâm hơn cả là phần phụ sinh dục.
Con đực phần phụ sinh dục hình chóp nhọn với 2 lỗ (lỗ hậu môn và lỗ niệu sinh dục); con cái phần phụ sinh dục có dạng chóp bầu hơn con đực với 3 lỗ (lỗ hậu môn, lỗ sinh dục và lỗ niệu tách biệt nhau). Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái bên ngoài Đặc điểm Cá đực Cá cái Nhỏ, hàm dưới trề do Đầu To và nhô cao ngậm trứng và con Vây đuôi và vây lưng có Màu sắc Màu nhạt hơn màu sắc sặc sỡ Gồm 2 lỗ: Niệu sinh dục Gồm 3 lỗ: Lỗ niệu, lỗ Lỗ sinh dục và lỗ hậu môn sinh dục và lỗ hậu môn Đầu thoát lỗ niệu sinh Dạng tròn hơi lồi và Hình dạng huyệt dục dạng lồi, hình nón không nhọn như cá đực và nhọn n 7 Cá rô phi O. niloticus có khả năng đẻ ở nhiệt độ 200C trở lên. Do vậy với điều kiện khí hậu ở miền Bắc Việt Nam cá rô phi O.
niloticus có thể sinh sản từ cuối tháng 3 cho đến tháng 11 dương lịch. Ở miền Nam Việt Nam cá có khả năng đẻ quanh năm. Chu kỳ sinh sản trong tự nhiên của cá rô phi khoảng 40-45 ngày/lứa (Nguyễn Tường Anh, 2005) [2]. Một đặc điểm sinh sản rất đặc biệt của O.
niloticus là con cái ấp trứng trong miệng cho tới khi cá con có khả năng tự kiếm ăn và trốn tránh được kẻ thù. Do vậy trong suốt quá trình ấp trứng cá cái phải nhịn ăn. Với đặc điểm này mỗi lần đẻ cá cái đẻ giao động 2. Quá trình ấp trứng trong miệng, cá mẹ không cung cấp chất dinh dưỡng cho trứng mà chỉ có nhiệm vụ đảo đều trứng (cung cấp ôxy cho trứng song song với trao đổi khí của chính cơ thể cá mẹ và bảo vệ trứng cũng như con non).
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cá Rô phi đã được nuôi ở trên 100 nước trên thế giới.