CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM đoán, đặc biệt là khi cần phát hiện tế bào ung thư với kích cỡ và vị trí chính xác. Một số các thông số quan trọng của ảnh chụp cắt lớp vi tính thể hiện ở số lượng lát cắt, độ dày lát cắt và khoảng cách giữa các lát cắt. Điều chỉnh các tham số này phù hợp có thể giúp phát hiện sớm và chính xác những tế bào hay khối u nhỏ bất thường mà những phương pháp tạo ảnh khác khó phát hiện được.2 là ví dụ về hình ảnh các lát cắt liên tiếp của phổi.
Các lát cắt này sẽ được xếp liên tiếp nhau tạo thành một hình khối 3D. Nếu khoảng cách giữa các lát cắt quá lớn hoặc độ dày lát cắt quá mỏng thì ảnh chụp cắt lớp vi tính có thể bỏ sót những bất thường nhỏ nằm giữa hai lát cắt liên tiếp. Vì vậy việc lựa chọn các thông số này cần được đánh giá tỉ mỉ trước khi thực hiện chụp hình.2: Hình ảnh một số lát cắt trong chụp cắt lớp vi tính phổi [6] Trong chụp cắt lớp vi tính, việc kết hợp sử dụng các chất cản quang sẽ đem lại hình ảnh rõ nét hơn cũng như có thể đánh giá việc ngấm thuốc, lưu thông các chất cản quang trong cơ thể theo thời gian thực. Các chất này có tỷ trọng cao và xuất hiện màu trắng trên ảnh, làm nổi bật các mạch máu, các cơ quan hoặc các cấu trúc khác.
Chất cản quang được đưa vào cơ thể qua nhiều đường (đường tiêm, đường uống) tùy theo mục đích chẩn đoán của bác sĩ. TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM Ảnh cắt lớp vi tính thường được ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị các nhóm bệnh lý như chấn thương, ung thư, tim mạch. Trong bệnh lý chấn thương, chụp CT có thể phát hiện các vấn đề về chấn thương toàn bộ cơ thể như: chấn thương sọ não, chấn thương đầu mặt cổ hay các chấn thương hệ thống xương khớp cũng như chấn thương khoang ngực, bụng, chậu. Trong các bệnh lý ung thư, chụp CT rất có giá trị trong sàng lọc, chẩn đoán các khối u cũng như phân loại, định hướng điều trị và theo dõi sau điều trị.
Trong bệnh lý tim mạch, chụp CT được ứng dụng trong chẩn đoán bệnh mạch vành, bệnh lý mạch não, mạch thận, mạch chi, v. nhờ kỹ thuật không xâm lấn nên ít gây tổn hại cho bệnh nhân hơn các kỹ thuật chẩn đoán can thiệp khác. Ngoài ra, khi cấp cứu các ca liên quan đến ổ bụng, chụp CT có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán một số bệnh thường gặp trong cấp cứu bụng ngoại khoa mà siêu âm hạn chế đánh giá như viêm tụy cấp, viêm ruột thừa, viêm ruột hoại tử, áp xe trong ổ bụng, v. Rủi ro khi chụp ảnh cắt lớp vi tính cũng giống như rủi ro khi chụp ảnh X-quang khi bệnh nhân phải tiếp xúc với tia X hay bức xạ ion hoá dẫn đến khả năng đột biến gen và ung thư.
Bên cạnh đó khi cần sử dụng chất cản quang, bệnh nhân cũng có nguy cơ phản ứng với các chất này như dị ứng, phát ban.3 Ảnh cắt lớp phát xạ Ảnh cắt lớp phát xạ nằm trong nhóm kỹ thuật ảnh y tế được tạo bởi tia gamma. Loại hình ảnh này khác với các nhóm hình ảnh khác bởi phương thức thực hiện tạo ảnh cần phải đưa các hợp chất phóng xạ thích hợp vào cơ thế. Các hợp chất này được đánh dấu bằng phóng xạ phát ra tia gamma và đưa vào cơ thể bệnh nhân qua đường tiêm, truyền hoặc uống. Sau một khoảng thời gian (khoảng 60 phút) khi các mô đã hấp thụ hợp chất được đánh dấu thì máy chụp ảnh cắt lớp phát xạ sẽ ghi lại tín hiệu phát ra từ chất phóng xạ trong các hợp chất đánh dấu đó.
Các tín hiệu sẽ được chuyển thành hình ảnh thông qua một hệ thống máy tính, sau đó các bác sĩ sẽ phân tích hình ảnh để chẩn đoán bệnh. TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM Nguyên lý của việc chẩn đoán bệnh bằng hình ảnh cắt lớp phát xạ xuất phát từ việc tiêu hao năng lượng của tế bào. Tất cả các tế bào đều cần năng lượng để sống và hoạt động. Một trong những nguồn năng lượng ấy là đường.
Các tế bào bệnh thường cần nhiều năng lượng hơn và tiêu hao nhiều đường hơn so với các tế bào lành. Qua việc đưa vào cơ thể các hợp chất giống như đường (ví dụ gluco FDG) được đánh dấu bằng chất phát xạ và đánh giá các vùng tập trung nhiều chất phóng xạ qua sự chênh lệch trên hình ảnh, bác sĩ sẽ chẩn đoán được vùng bị bệnh trên cơ thể cũng như mức độ nặng nhẹ của bệnh.3 thể hiện sự khác nhau về vùng tập trung chất phóng xạ giữa não của người bị bệnh Parkinson so với người bình thường.3: Hình ảnh chụp cắt lớp phát xạ não [7]: (a) Não của người bình thường, (b) Não của người bị bệnh Parkinson, (c) Não của người bệnh Parkinson đã được điều trị Chụp cắt lớp phát xạ là kỹ thuật phổ biến nhất được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi ung thư như phát hiện sớm ung thư, phát hiện và theo dõi giai đoạn phát triển của ung thư. Ngoài ra ảnh chụp cắt lớp phát xạ còn được dùng trong chẩn đoán các vấn đề bệnh lý khác như bệnh về hệ thần kinh (Parkinson, Alzheimer), bệnh về tim mạch (các bệnh lý động mạch vành). TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM 1.4 Ảnh chụp cộng hưởng từ Nguyên lý cộng hưởng từ hạt nhân được Felix Block và Edward Puroel phát hiện vào năm 1946, cộng hưởng từ được ứng dụng rộng rãi từ năm 1950.
Nguyên lý này được phát triển xuất phát từ đặc điểm trong cơ thể người chứa rất nhiều nước, đồng nghĩa với có nhiều nguyên tử hydro (proton). Ngoài ra, trong những môi trường khác nhau thì quá trình hồi phục của các hạt nhân diễn ra khác nhau. Do đó, tín hiệu phát ra tại giữa vùng bình thường và khối u, hay giữa mô cứng và mô mềm sẽ không giống nhau. Nếu ta dựa vào hoạt động từ của các nguyên tử hydro để ghi nhận sự phân bố nước khác nhau của các mô trong cơ thể thì chúng ta có thể ghi hình và phân biệt được các mô đó.
Mặt khác, trong cùng một cơ quan, các tổn thương bệnh lý đều dẫn đến sự thay đổi phân bố nước tại vị trí tổn thương, dẫn đến hoạt động từ tại đó sẽ thay đổi so với mô lành, nên ta cũng sẽ ghi hình được các thương tổn. Ứng dụng nguyên lý này, máy quét cộng hưởng từ sử dụng một từ trường mạnh và một hệ thống phát các xung có tần số vô tuyến để điều khiển hoạt động điện từ của nhân nguyên tử, từ đó tạo ra hình ảnh. Trong từ trường mạnh, hạt nhân của nguyên tử hydro - một proton - có xu hướng tự xếp dọc theo hướng của từ trường. Sau đó, một ăng ten thu phát sóng radio tần số thấp (tần số radio này được thay đổi trong vùng từ trường ổn định của nam châm chính tùy theo mục đích khảo sát) được sử dụng để gửi tín hiệu đến các nguyên tử hydro của cơ thể, sau đó nhận lại tín hiệu về chiều chuyển động của các nguyên tử này.
Tín hiệu của ăng ten được truyền về trung tâm xử lý tín hiệu và tái tạo thành hình ảnh cấu trúc của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể cần khảo sát. TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM Hình 1.4: Hình ảnh chụp cộng hưởng từ não [8]: (a) Mặt cắt ngang, (b) Mặt cắt đứng ngang, (c) Mặt cắt đứng dọc Ảnh chụp bởi phương pháp cộng hưởng từ có ưu điểm là tạo ra ảnh của cấu trúc các mô mềm trong cơ thể như tim, phổi, gan và các cơ quan khác rõ hơn và chi tiết hơn so với ảnh được tạo bằng các phương pháp khác. Ví dụ trong hình 1.4 là hình ảnh chụp cộng hưởng từ 3 loại mặt cắt của não với mức độ chi tiết cao và có thể được chụp theo nhiều hướng, đưa ra nhiều góc nhìn hơn cho bác sĩ. Hơn nữa, nhờ sử dụng từ trường và sóng radio, không sử dụng tia X nên MRI rất an toàn cho bệnh nhân.
Đây là một kỹ thuật nhanh, gọn không gây ảnh hưởng phụ, là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, hiệu quả và phổ biến trên thế giới. Ngày nay, MRI được sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống. Chụp cộng hưởng từ còn có giá trị hơn nữa khi có thể hỗ trợ bác sĩ nắm được thông tin về vị trí thương tổn trước khi phẫu thuật (chẳng hạn như tiểu phẫu não) với khả năng chụp được những hình ảnh 3 chiều.
Chỉ có một nhược điểm nhỏ với phương pháp này là khi người bệnh có các vật bằng kim loại cấy trong cơ thể không được phát hiện có thể bị ảnh hưởng bởi từ trường mạnh.5 Ảnh siêu âm Siêu âm là một phương thức tạo hình ảnh y tế được nghiên cứu rộng rãi kể từ đầu năm 1950. Hình ảnh siêu âm sử dụng đầu dò điện để tạo ra các chùm âm thanh tần 11 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ẢNH Y TẾ VÀ ẢNH SIÊU ÂM số cao (khoảng 1–10 MHz) lặp đi lặp lại. Các xung này truyền vào mô mềm của cơ thể, tương tác và phản xạ trở lại đầu dò.
Thời gian quay lại của các xung này cung cấp thông tin về vị trí (độ sâu) của vật phản xạ và cường độ các xung này cung cấp thông tin về mật độ vật chất của vật phản xạ. Bằng cách di chuyển và quét đầu dò cùng với chùm âm thanh của nó phát ra, hình ảnh thời gian thực về mặt cắt của mô mềm có thể được tạo ra Hình 1.5: Hình ảnh siêu âm gan [9]: (a) Chế độ B, (b) Chế độ màu Doppler Hệ thống hình ảnh siêu âm cung cấp một số phương thức chụp ảnh như sau: • Chế độ A (A-mode): tạo ra hình ảnh dưới dạng sóng một chiều và do đó bản thân nó không thực sự là một hình ảnh (hình ảnh thường có ít nhất 2 chiều). Tuy vậy, chế độ chụp này có thể cung cấp thông tin chi tiết về những chuyển động nhanh hoặc nhỏ, ví dụ như chuyển động trong van tim. • Chế độ B (B-mode): là hình ảnh giải phẫu mặt cắt ngang thông thường, ví dụ như trong hình 1.5 (a) là hình ảnh mặt cắt gan khi siêu âm.