phần Mở đầu, Kết luận, các danh mục bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng. Trong đó: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Chƣơng 2: Thực trạng hình thành và sử dụng nguồn vốn tại Công ty BHNT Prudential Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại Công ty BHNT Prudential. 6 CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ SỞ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.
Tổng quan về hoạt động bảo hiểm nhân thọ 1. Bảo hiểm và các nguyên tắc của bảo hiểm Bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh xuất hiện khá sớm trên thế giới so với các ngành nghề khác, theo đó một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên đã xuất hiện vào năm 1347 tại Genoa, Italia. Tuy nhiên đến nay vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm. Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra các khái niệm dựa trên các giác độ nghiên cứu khác nhau về bảo hiểm.
Sau đây là một số khái niệm về bảo hiểm mang tính phổ biến: Dƣới góc độ tài chính bảo hiểm đƣợc định nghĩa là “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”. Dƣới góc độ pháp lý giáo sƣ Monique Gaullier đƣa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là ngƣời đƣợc bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho ngƣời thứ ba trong trƣờng hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận đƣợc một khoản đền bù các tổn thất đƣợc trả bởi một bên khác: đó là ngƣời bảo hiểm. Ngƣời bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phƣơng pháp của thống kê.” Dƣới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, tập đoàn bảo hiểm thƣơng mại trên thế giới đƣa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một ngƣời, hay một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhƣợng rủi ro cho các công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những ngƣời đƣợc bảo hiểm”. 7 Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Mặc dù có sự khác biệt trong các khái niệm về bảo hiểm, nhƣng nhìn chung các khái niệm đều mô tả đƣợc tính chất san sẻ rủi ro của bảo hiểm, chuyển giao rủi ro thông qua cơ chế phí bảo hiểm. Tóm lại: “Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay tổ chức có quyền đƣợc hƣởng bồi thƣờng hoặc đƣợc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng phí bảo hiểm cho mình hay cho ngƣời thứ ba khác thông qua hợp đồng bảo hiểm. Khoản tiền bồi thƣờng này do một tổ chức (thƣờng là công ty bảo hiểm) đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trƣớc rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê”. Bản chất của bảo hiểm và các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm Bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số ngƣời cho tất cả những ngƣời tham gia bảo hiểm cùng chịu.
Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers). Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩn trong nƣớc giữa những ngƣời tham gia bảo hiểm, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây nên tổn thất. Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia bảo hiểm cũng đƣợc phân phối và với cùng số tiền nhƣ nhau. Việc phân phối trong bảo hiểm dựa trên cơ sở phân phối cho số ít ngƣời tham gia bảo hiểm không may gặp tai nạn rủi ro bất ngờ gây nên thiệt hại, đƣợc căn cứ trên mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm.
Nhƣ vậy, phân phối trong bảo hiểm 8 không mang tính bồi hoàn, nghĩa là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhƣng nếu không xảy ra sự kiện bảo hiểm cũng không đƣợc phân phối (trừ một số sản phẩn bảo hiểm hƣu trí, bảo hiểm nhân thọ, …). Sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ đặc biệt, mang những đặc trƣng cơ bản sau: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình: Sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo về mặt vật chất trƣớc rủi ro cho khách hàng và kèm theo là các dịch vụ có liên quan. Vào thời điểm bán, sản phẩm chủ yếu mà các nhà bảo hiểm cung cấp ra thị trƣờng chỉ là lời hứa, lời cam kết bồi thƣờng của công ty bảo hiểm khi khách hàng xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc kết thúc thời hạn bảo hiểm. Đó là sản phẩm vô hình mà ngƣời bán không thể chỉ ra màu sắc, kích thƣớc hay hình dạng; và ngƣời mua cũng không cảm nhận đƣợc bằng giác quan của mình nhƣ: cầm, nắm, nếm, ngửi.
dẫn đến khó khăn cho ngƣời bán khi giới thiệu sản phẩm của mình. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”: Bảo hiểm không chỉ là sản phẩm không thể động chạm đƣợc mà lợi ích của nó với khách hàng- đó là việc bồi thƣờng hay chi trả tiền bảo hiểm- cũng bấp bênh và xê dịch theo thời gian. Khách hàng không thể nhận đƣợc lợi ích tức thì của sản phẩm bảo hiểm. Từ thời điểm mua cho đến thời điểm thức sự biết đƣợc “giá trị sử dụng” của sản phẩm bảo hiểm là một thời gian không xác định hoặc là một khoảng thời gian khá dài.
Tính đặc thù này đƣợc xuất phát từ việc khách hàng mua bảo hiểm những bảo vệ khi không xảy ra sự cố đối với mình. Điều này đã gây khó khăn cho quá trình thực hiện các bƣớc marketing, nhất là khi thăm dò sự trông đợi của khách hàng cũng nhƣ khi truyền thông về sản phẩm và bán sản phẩm. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của “chu trình sản xuất ngƣợc”: Đặc điểm này đƣợc thể hiện thông qua việc các doanh nghiệp bảo hiểm không 9 phải bỏ vốn trƣơc mà nhận phí bảo hiểm của ngƣời tham gia bảo hiểm đóng góp trƣớc và thực hiện nghĩa vụ sau với bên đƣợc bảo hiểm, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Do vậy không thể tính chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm.
Khả năng sinh lời của bảo hiểm chỉ đƣợc đánh giá trong một thời hạn trung bình và tốt nhất thƣờng trong một thời gian dài. Đặc thù này đã gây cản trở cho việc đổi mới sản phẩm bảo hiểm. Bởi vì nếu doanh nghiệp muốn tiến hành việc sửa đổi một sản phẩm vảo hiểm hoặc thay đổi biểu phí để đáp ứng tốt hơn với nhu cầu của khách hàng thì càng khó khăn hơn trƣớc. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm “ dễ bắt chƣớc”: Một hợp đồng bảo hiểm dù là bản gốc cũng không đƣợc cấp bằng phát minh, sáng chế và không đƣợc bảo hộ bản quyền.
Về lý thuyết mọi công ty có thể bán hợp pháp một sản phẩm bảo hiểm giống nhau về quyền lợi với công ty cạnh tranh ngoại trừ tên và các tuyên truyền quảng cáo. Trong thực tế, các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đều phải xây dựng dựa trên khung quy định của Bộ Tài Chính. Nhƣ vậy, mục đích chủ yếu của bảo hiểm chính là góp phần ổn định kinh tế cho ngƣời tham gia bảo hiểm khi không may xảy ra rủi ro, sự kiện bảo hiểm, để khôi phục cuộc sống. Đồng thời, bảo hiểm là một trong các kênh tạo vốn cho phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc.
Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm: Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty): Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con ngƣời chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith): Tất cả các giao dịch kinh doanh cần đƣợc thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối. Cả ngƣời đƣợc bảo hiểm và ngƣời bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề. 10 Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm (insurable interest): Quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tƣợng bảo hiểm.
Nguyên tắc này chỉ ra rằng ngƣời đƣợc bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tƣợng bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thƣờng (indemnity): Theo nguyên tắc bồi thƣờng, khi có tổn thất xảy ra, ngƣời bảo hiểm phải bồi thƣờng nhƣ thế nào đó để đảm bảo cho ngƣời đƣợc bảo hiểm có vị trí tái chính nhƣ trƣớc khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không đƣợc lợi dụng bảo hiểm để trục lợi.
Nguyên tắc thế quyền (subrobgation): Theo nguyên tắc thế quyền, ngƣời bảo hiểm sau khi bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm, có quyền thay mặt ngƣời đƣợc bảo hiểm để đòi ngƣời thứ ba trách nhiệm bồi thƣờng cho mình. Vai trò của bảo hiểm Với tƣ cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân, vai trò quan trọng của bảo hiểm có thể đƣợc kể đến nhƣ sau: Chuyển giao rủi ro: Bảo hiểm vận hành giống nhƣ một cơ chế chuyển giao rủi ro. Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, ngƣời đƣợc bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang công ty bảo hiểm. San sẻ tổn thất: Bảo hiểm có tác dụng san sẻ tổn thất tài chính của một số ít ngƣời cho số đông nhiều ngƣời.
Tác dụng này đã thể hiện rõ nguyên tắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tƣơng hỗ.