Tổng quan luận án

Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (GLOBOCAN 2012), toàn thế giới ghi nhận khoảng 1,8 triệu ca mắc mới và chiếm gần 27% tổng số ca tử vong do ung thư. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng đầu về tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở cả hai giới, với ước tính mỗi năm có 16.082 ca mới ở nam và 5.783 ca mới ở nữ. Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm 85% đến 90% các trường hợp, trong đó đa số bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán ở giai đoạn muộn (giai đoạn IIIB–IV hoặc tái phát, di căn), với tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ đạt khoảng 4%.

Trước đây, điều trị chuẩn cho ung thư phổi giai đoạn muộn chủ yếu dựa vào hóa trị toàn thân phác đồ có platinum. Tuy nhiên, thời gian sống thêm trung bình của hóa trị thường không vượt quá 12 tháng, kèm theo độc tính tủy xương cao và tình trạng kháng thuốc. Những hiểu biết về sinh học phân tử đã xác định thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (EGFR) là đích điều trị quan trọng. Tỷ lệ đột biến gen EGFR ở bệnh nhân châu Á nói chung đạt trên 50%, và tại Việt Nam ghi nhận lên đến 64,2%, chủ yếu tập trung ở thể ung thư biểu mô tuyến và người không hút thuốc. Dù các thuốc ức chế tyrosine kinase của EGFR (EGFR TKI) như erlotinib (Tarceva) đã được cấp phép sử dụng, nhưng tại thời điểm nghiên cứu, nhiều bệnh nhân có đột biến gen EGFR tại Việt Nam không thể tiếp cận thuốc ngay từ bước 1 do rào cản chi phí, xét nghiệm và điều kiện bảo hiểm y tế, buộc phải sử dụng hóa trị trước rồi mới chuyển sang dùng erlotinib khi bệnh tiến triển. Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu thực tế tại Việt Nam về hiệu quả và tính an toàn của erlotinib khi điều trị tuần tự ở các bước tiếp sau trên quần thể bệnh nhân biểu mô tuyến thuần nhất mang đột biến EGFR nhạy cảm thuốc.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Thu Hà, chuyên ngành Ung thư (mã số: 62720149), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Văn Thuấn tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2017, đặt ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả điều trị của thuốc erlotinib (Tarceva) trong ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn đã thất bại với hoá trị.
  2. Đánh giá một số tác dụng phụ của thuốc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 79 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tuyến của phổi giai đoạn muộn (giai đoạn IIIB–IV theo phân loại AJCC 2010 hoặc tái phát, di căn), mang đột biến gen EGFR nhạy cảm thuốc tại exon 19 hoặc exon 21, đã thất bại với ít nhất một phác đồ hóa trị trước đó và được điều trị bằng erlotinib đơn thuần đường uống liên tục tối thiểu 2 tháng.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện tại ba trung tâm chuyên khoa ung bướu lớn ở Hà Nội, gồm Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Trung tâm Y học hạt nhân và điều trị ung bướu thuộc Bệnh viện Bạch Mai.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và theo dõi bệnh nhân điều trị trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 10 năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các mốc nghiên cứu quốc tế và trong nước về hiệu quả của thuốc erlotinib trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ:

  • Các nghiên cứu quốc tế về erlotinib bước 2 và bước 3:
    • Thử nghiệm pha II của Perez-Soler R. (2004) trên 57 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thất bại với hóa trị platinum, ghi nhận tỷ lệ đáp ứng 12%, bệnh ổn định 39%, thời gian sống thêm trung bình 8,4 tháng và tỷ lệ sống thêm 1 năm đạt 40%.
    • Thử nghiệm lâm sàng pha III ngẫu nhiên, mù đôi NCIC-CTG BR21 thực hiện trên 731 bệnh nhân so sánh erlotinib 150 mg/ngày với giả dược sau thất bại hóa trị. Kết quả cho thấy erlotinib giúp tăng tỷ lệ đáp ứng lên 8,9% (so với 1% ở nhóm chứng), kéo dài thời gian sống thêm toàn bộ từ 4,7 tháng lên 6,7 tháng (HR = 0,7; p < 0,01) và sống thêm không tiến triển từ 8,0 tuần lên 9,7 tuần.
    • Nghiên cứu mở rộng pha IV TRUST trên 6.580 bệnh nhân toàn cầu (trong đó có 1.242 bệnh nhân Đông Á và Đông Nam Á). Phân tích trên nhóm bệnh nhân châu Á điều trị erlotinib bước 2 ghi nhận tỷ lệ đáp ứng 27%, tỷ lệ kiểm soát bệnh 78%, trung vị sống thêm không tiến triển đạt 5,78 tháng và sống thêm toàn bộ đạt 14,7 tháng.
    • Các thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh erlotinib bước 2 với hóa trị trên quần thể không chọn lọc tình trạng đột biến như TITAN, HORG, DELTA và TALOR đều cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về sống thêm không tiến triển giữa hai nhánh; tuy nhiên, các phân tích dưới nhóm khẳng định bệnh nhân mang đột biến EGFR hưởng lợi ích sống còn vượt trội từ erlotinib so với hóa trị docetaxel.
    • Các công trình chuyên biệt trên nhóm có đột biến EGFR điều trị bước 2 được tác giả tổng hợp trong bảng đối chiếu:
Tác giả Đặc điểm mẫu nghiên cứu Trung vị STKTT (tháng)
Massuti và cộng sự (2012) n = 217, bước 2, đột biến exon 19 (n=134), exon 21 (n=83) 14,0
Rosell và cộng sự (2009) n = 104, đột biến trên exon 19, 21 13,0
Zhou và cộng sự (2011) n = 56, bước 2, có đột biến EGFR 15,8
Yoshiko Urata (2016) n = 160, bước 2, đột biến EGFR 10,0
  • Nghiên cứu trên nhóm di căn não và chiến lược điều trị tuần tự: Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Porta và cộng sự trên 69 bệnh nhân (17 ca có đột biến, tỷ lệ đáp ứng đạt 51,8% - 75,7%), cùng phân tích gộp 16 thử nghiệm lâm sàng (464 bệnh nhân) chứng minh erlotinib qua được hàng rào máu não. Về trình tự điều trị, phân tích gộp của Zhang Y., Sun Y., Wang L. và cộng sự (2013) từ 6 thử nghiệm pha III so sánh tuần tự TKI trước và sau hóa trị ghi nhận nguy cơ tử vong tương đương giữa hai nhánh (HR = 1,01), tương tự nhận định từ các nghiên cứu IPASS, OPTIMAL, TORCH và EURTAC.
  • Các nghiên cứu trong nước: Nguyễn Tuyết Mai và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 36 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giai đoạn muộn tại Bệnh viện K (ghi nhận trung vị STKTT 8,15 tháng, STTB 12,1 tháng); Lê Thượng Vũ và Trần Nguyên Ngọc (2013) đánh giá 98 bệnh nhân không rõ tình trạng đột biến (trung vị STKTT bước 2 là 8,0 tháng, STTB đạt 18,0 tháng).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trong nước trước năm 2017 có cỡ mẫu hạn chế, điều trị trên quần thể không phân tích đột biến hoặc chỉ có tỷ lệ rất nhỏ bệnh nhân được làm xét nghiệm gen. Luận án của Lê Thu Hà là công trình chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam đánh giá trên một mẫu thuần nhất gồm 100% bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giai đoạn muộn có đột biến gen EGFR nhạy cảm (exon 19 và 21) thất bại sau hóa trị, cung cấp đầy đủ dữ liệu lâm sàng, chất lượng sống, các mốc sống thêm và phân tích đa biến các yếu tố tiên lượng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên nền tảng sinh học phân tử của thụ thể EGFR (thuộc nhóm thụ thể ErbB tyrosine kinase màng tế bào, gồm HER-1, HER-2, HER-3 và HER-4). Phân tử EGFR gồm ba vùng: vùng ngoại bào gắn phối tử, vùng xuyên màng và vùng nội bào mang hoạt tính tyrosine kinase. Tín hiệu nội bào kích hoạt qua hai con đường dẫn truyền chính: RAF-MEK-MAPK (điều hòa phân chia tế bào) và PI3K-AKT-mTOR (duy trì sống sót, sinh mạch, xâm lấn và ức chế quá trình chết theo chương trình apoptosis). Gen EGFR gồm 28 exon nằm trên nhánh ngắn nhiễm sắc thể 7 (vị trí 7p12). Các đột biến hoạt hóa làm tăng tính nhạy cảm với thuốc TKI nằm ở vùng gắn ATP từ exon 18 đến exon 21:

  • Đột biến nhóm I: Mất đoạn trên exon 19 (xóa các acid amin từ vị trí 747-leucine đến 749-glutamic, đột biến LREA), chiếm khoảng 45%.
  • Đột biến nhóm II: Các đột biến điểm thay thế một nucleotid, phổ biến nhất là đột biến L858R trên exon 21 (thay arginine bằng leucine tại codon 858), chiếm khoảng 40% đến 45%, cùng các đột biến hiếm như G719X tại exon 18 và L861Q tại exon 21. Hai nhóm đột biến này làm giảm ái lực của thụ thể với ATP và tăng ái lực cạnh tranh với thuốc EGFR TKI.
  • Đột biến nhóm III: Đột biến kháng thuốc tại exon 20, tiêu biểu là T790M, chiếm khoảng 50% nguyên nhân kháng thuốc mắc phải sau điều trị TKI thế hệ 1.

Về mô bệnh học, tác giả áp dụng phân loại quốc tế IASLC/ATS/ERS 2011 và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2014) cho ung thư biểu mô tuyến phổi, liên hệ với tỷ lệ bộc lộ dấu ấn đột biến gen:

Thứ typ mô học UTBM tuyến Tỷ lệ đột biến EGFR (%) Tỷ lệ đột biến KRAS (%)
UTBM tuyến tại chỗ 85,7 0,0
Xâm nhập tối thiểu 83,3 8,3
Typ Lepidic 71,4 0,0
Typ Nhú 68,5 4,5
Typ Vi nhú 40,1 Chưa xác định
Typ Nang 38,4 23,1
Typ Đặc 14,3 25,0
UTBM tuyến chế nhày xâm nhập 0,0 80,0 - 100,0

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc thuần tập lâm sàng không đối chứng.
  • Thu thập số liệu: Hồi cứu và tiến cứu trên hồ sơ bệnh án kết hợp theo dõi trực tiếp, khám lâm sàng định kỳ, chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não và liên hệ bệnh nhân qua điện thoại hoặc thư từ đến khi kết thúc nghiên cứu.
  • Công cụ và tiêu chuẩn đánh giá:
    • Phân loại giai đoạn ung thư: Sử dụng hệ thống phân loại TNM phiên bản 7 của AJCC/UICC ban hành năm 2010.
    • Đánh giá toàn trạng: Dùng thang điểm chỉ số toàn trạng ECOG PS từ 0 đến 2.
    • Đánh giá chất lượng sống: Sử dụng bộ câu hỏi EORTC QOL-C30 (lượng hóa các thang điểm cơ năng và triệu chứng sau 2 tháng dùng thuốc).
    • Đánh giá đáp ứng khối u: Đo lường theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 trên tổn thương đích và tổn thương không phải đích, phân loại thành: Đáp ứng hoàn toàn (ĐƯHT), Đáp ứng một phần (ĐƯMP), Bệnh giữ nguyên (BGN) và Bệnh tiến triển (BTT). Tính toán tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR = ĐƯHT + ĐƯMP) và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR = ĐƯHT + ĐƯMP + BGN).
    • Đánh giá thời gian sống thêm: Thời gian sống thêm không tiến triển (STKTT) tính từ ngày bắt đầu dùng erlotinib đến khi bệnh tiến triển hoặc tử vong; thời gian sống thêm toàn bộ (STTB) tính từ ngày bắt đầu dùng erlotinib đến khi tử vong do mọi nguyên nhân.
    • Đánh giá tác dụng không mong muốn: Phân độ độc tính theo tiêu chuẩn CTCAE đối với các hệ cơ quan: da và mô dưới da, tiêu hóa, huyết học, gan và thận.
  • Kỹ thuật xét nghiệm đột biến gen: Sử dụng bệnh phẩm mô sinh thiết đúc khối nến formalin (FFPE) hoặc khối tế bào (cell block), thực hiện bằng kỹ thuật Real-time PCR (Scorpion ARMS) hoặc giải trình tự gen trực tiếp.
  • Xử lý số liệu: Ước tính xác suất sống thêm bằng phương pháp Kaplan-Meier, kiểm định sai khác bằng Log-rank test. Phân tích đơn biến và đa biến xác định các yếu tố tiên lượng độc lập bằng mô hình hồi quy đa biến Cox (Cox proportional hazards model).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết dịch tễ học ung thư phổi toàn cầu và Việt Nam, các yếu tố nguy cơ (trong đó hút thuốc lá liên quan đến 85%–90% các ca bệnh; vai trò của ô nhiễm môi trường, khí radon, amiăng và tiền sử bệnh phổi mạn tính). Tác giả mô tả chi tiết 4 nhóm triệu chứng lâm sàng: triệu chứng tại chỗ tại vùng (ho khan, khó thở, đau ngực, khàn tiếng, hội chứng Pancoat-Tobias, hội chứng Claude-Bernard-Horner), hội chứng cận u (nội tiết SIADH, tăng calci huyết, thần kinh Lambert-Eaton, hội chứng Pierre-Marie), triệu chứng di căn (não, xương, gan) và triệu chứng toàn thân. Phân tích giá trị các phương pháp cận lâm sàng: X-quang, CT scan, MRI phát hiện di căn não, xạ hình xương, PET-CT đánh giá giai đoạn và tái phát, nội soi phế quản ống mềm, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT, nội soi trung thất và kỹ thuật khối tế bào. Chương 1 trình bày chi tiết bảng phân loại giai đoạn TNM phiên bản 7 (AJCC 2010), phân loại giải phẫu bệnh ung thư biểu mô tuyến theo WHO 2014, nguyên tắc điều trị đa mô thức theo từng giai đoạn bệnh, cơ chế sinh học phân tử của thụ thể EGFR, các dạng đột biến nhạy cảm thuốc (exon 19 del, exon 21 L858R) và kháng thuốc (exon 20 T790M). Đồng thời, tác giả tổng hợp y văn về các thử nghiệm lâm sàng erlotinib bước 2/3, hiệu quả trên tổn thương di căn não, các phân tích về trình tự dùng thuốc TKI trước hay sau hóa trị, cùng các đặc tính dược lý học của erlotinib (biệt dược Tarceva, viên nén 150 mg, chuyển hóa qua gan, thải trừ qua phân).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn bệnh và quy trình thực hiện trên 79 bệnh nhân tại ba bệnh viện chuyên khoa ung bướu. Bệnh nhân được xác định mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến, giai đoạn IIIB–IV (AJCC 2010) hoặc tái phát di căn sau hóa trị, mang đột biến gen EGFR tại exon 19 hoặc 21, có tổn thương đo lường được trên phim chụp theo RECIST 1.1 và có thể tích tổn thương theo dõi đầy đủ. Tác giả nêu rõ quy trình điều trị ngoại trú với liều erlotinib chuẩn 150 mg uống hàng ngày, uống trước ăn 1 giờ hoặc sau ăn 2 giờ, theo dõi định kỳ hàng tháng về lâm sàng và tái đánh giá hình ảnh học mỗi 2–3 tháng. Quy trình giảm liều theo nấc 50 mg (xuống 100 mg, sau đó 50 mg) hoặc tạm ngừng điều trị khi xuất hiện độc tính độ 3–4 (nổi ban nặng, tiêu chảy khó kiểm soát, tăng men gan) được quy định chặt chẽ. Hệ thống thu thập thông tin bao gồm bệnh sử dùng hóa chất trước đó, các vị trí di căn (phổi đối bên, màng phổi, não, xương, gan, thượng thận), đánh giá chất lượng sống bằng thang đo EORTC QOL-C30 tại thời điểm sau 2 tháng, và ghi nhận độc tính theo tiêu chuẩn chung. Cuối chương là các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết thống kê, xây dựng đường cong sống thêm Kaplan-Meier, so sánh Log-rank và mô hình hồi quy nguy cơ tỷ lệ Cox đơn biến, đa biến nhằm tìm kiếm các yếu tố dự báo sống thêm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết qua hệ thống 60 bảng số liệu và 28 biểu đồ:

  • Đặc điểm nhóm nghiên cứu: Tuổi trung bình, phân bố giới tính, tiền sử hút thuốc lá/thuốc lào, tiền sử bệnh nội khoa phối hợp; chỉ số thể trạng ECOG PS trước điều trị (phần lớn là PS 0–1); chỉ số khối cơ thể BMI. Về đặc điểm di căn, các vị trí thường gặp nhất là di căn xương, phổi đối bên, màng phổi và não; đa số bệnh nhân có từ 2 cơ quan di căn trở lên. Về tiền sử điều trị, các bệnh nhân đều đã thất bại với ít nhất 1 phác đồ hóa chất (phổ biến là phác đồ đôi có platinum: paclitaxel/carboplatin, gemcitabine/cisplatin, pemetrexed/cisplatin); tác giả ghi nhận cụ thể tỷ lệ đáp ứng và thời gian STKTT của các phác đồ hóa trị trước đó. Về xét nghiệm gen, phân loại rõ tỷ lệ mang đột biến mất đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R trên exon 21.
  • Kết quả đáp ứng điều trị: Đánh giá cải thiện triệu chứng cơ năng bằng bộ câu hỏi EORTC QOL-C30 sau 2 tháng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt các thang điểm ho, khó thở, đau ngực, giúp giảm liều và dừng thuốc giảm đau phối hợp ở nhiều trường hợp; thời gian xuất hiện đáp ứng lâm sàng sớm ngay trong tháng đầu. Về đáp ứng khách quan khối u theo tiêu chuẩn RECIST 1.1, luận án ghi nhận cụ thể tỷ lệ đáp ứng một phần (ĐƯMP), tỷ lệ bệnh giữ nguyên (BGN), tỷ lệ bệnh tiến triển (BTT) và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR), đồng thời đánh giá riêng biệt tỷ lệ đáp ứng trên nhóm tổn thương di căn não. Phân tích tương quan chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ đáp ứng khách quan với tác dụng phụ nổi ban trên da và đáp ứng với hóa chất trước đó.
  • Kết quả thời gian sống thêm:
    • Sống thêm không tiến triển: Luận án xác định trung vị STKTT chung cho 79 bệnh nhân. Phân tích STKTT theo các phân nhóm cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa theo loại exon đột biến (đột biến exon 19 có STKTT dài hơn exon 21), chỉ số thể trạng ECOG, tiền sử hút thuốc, sự xuất hiện tác dụng phụ trên da (bệnh nhân có nổi ban da có STKTT dài hơn nhóm không nổi ban), đáp ứng với hóa chất trước đó và mức độ đáp ứng với erlotinib. Phân tích đơn biến và đa biến Cox xác định các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến STKTT.
    • Sống thêm toàn bộ: Luận án xác định trung vị STTB chung của nhóm nghiên cứu. Đánh giá STTB theo các yếu tố lâm sàng: tuổi, giới, thể trạng ECOG, loại đột biến EGFR, tiền sử hút thuốc, tác dụng phụ nổi ban da, đáp ứng với hóa chất trước và đáp ứng điều trị erlotinib. Phân tích đa biến Cox xác nhận các yếu tố tiên lượng độc lập đối với thời gian sống thêm toàn bộ.
  • Độc tính và tác dụng không mong muốn: Ghi nhận phân bố và mức độ độc tính trên các hệ cơ quan. Độc tính trên da là thường gặp nhất (nổi ban dạng sẩn mủ, trứng cá phân bố chủ yếu ở mặt, ngực, lưng; khô da, ngứa), đa số ở độ 1 và độ 2, tỷ lệ độ 3 thấp. Độc tính tiêu hóa chủ yếu là tiêu chảy độ 1–2. Độc tính gan mật thoáng qua biểu hiện bằng tăng nhẹ men gan AST, ALT. Độc tính huyết học (giảm bạch cầu, thiếu máu) ở mức độ nhẹ. Luận án thống kê chi tiết tỷ lệ và lý do bệnh nhân phải giảm liều erlotinib xuống 100 mg hoặc tạm thời gián đoạn dùng thuốc.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận, phân tích đối chiếu các kết quả thu được với các công bố khoa học trong và ngoài nước:

  • Về đặc điểm lâm sàng và dịch tễ: Luận luận về tỷ lệ mắc bệnh theo giới, độ tuổi và tiền sử không hút thuốc ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến có đột biến EGFR, khẳng định sự tương đồng với các nghiên cứu kinh điển ở khu vực châu Á như IPASS hay nghiên cứu TRUST.
  • Về đáp ứng chủ quan và khách quan: Phân tích cơ chế giúp erlotinib cải thiện nhanh chóng chất lượng cuộc sống (lượng hóa qua EORTC QOL-C30) nhờ khả năng giảm nhẹ kích thước khối u và ức chế triệu chứng hô hấp. Bàn luận về tỷ lệ đáp ứng khách quan và tỷ lệ kiểm soát bệnh của erlotinib bước 2 trên nhóm có đột biến gen, lý giải sự vượt trội so với các nghiên cứu trên quần thể không chọn lọc gen (như BR21, TITAN). Đối chiếu hiệu quả kiểm soát di căn não với các công trình của Porta và các phân tích gộp quốc tế, khẳng định ưu thế ngấm qua hàng rào máu não của thuốc phân tử nhỏ.
  • Về thời gian sống thêm và các yếu tố tiên lượng: So sánh trung vị STKTT và STTB của luận án với các nghiên cứu bước 2 trên thế giới có chọn lọc đột biến EGFR (Massuti 2012: STKTT 14,0 tháng; Rosell 2009: 13,0 tháng; Zhou 2011: 15,8 tháng; Yoshiko Urata 2016: 10,0 tháng; TRUST châu Á: STKTT 5,78 tháng, STTB 14,7 tháng) và các nghiên cứu trong nước (Nguyễn Tuyết Mai: STKTT 8,15 tháng; Lê Thượng Vũ: STKTT 8,0 tháng). Tác giả lý giải tính ưu việt của phân nhóm mang đột biến mất đoạn exon 19 so với đột biến điểm exon 21 L858R. Bàn luận sâu về mối liên quan giữa độc tính nổi ban da với đáp ứng điều trị và kéo dài sống thêm, củng cố quan điểm coi ban da như một chỉ điểm sinh học lâm sàng thuận lợi. Đồng thời, phân tích tác động tiêu cực của khói thuốc lá làm giảm nồng độ thuốc trong huyết tương.
  • Về tính an toàn: Phân tích cơ chế tác dụng phụ ngoài da và đường tiêu hóa do ức chế EGFR biểu mô sinh lý; khẳng định erlotinib có độ dung nạp tốt, hầu hết tác dụng phụ ở mức độ 1–2, có thể kiểm soát tốt bằng điều trị triệu chứng mà không cần ngừng thuốc vĩnh viễn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  1. Đóng góp về lý luận và khoa học:
  • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu lâm sàng và sinh học phân tử đầu tiên tại Việt Nam đánh giá chuyên biệt hiệu quả của thuốc erlotinib trên quần thể thuần nhất gồm 79 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến phổi giai đoạn muộn mang đột biến gen EGFR nhạy cảm (exon 19 và exon 21) sau khi đã thất bại với hóa trị.
  • Khẳng định trên thực tế lâm sàng Việt Nam rằng chiến lược điều trị erlotinib tuần tự ở bước tiếp sau hóa trị vẫn mang lại tỷ lệ kiểm soát bệnh cao, kéo dài thời gian sống thêm không tiến triển và sống thêm toàn bộ tương đương với nhiều công bố quốc tế.
  • Xác định giá trị tiên lượng độc lập của một số yếu tố lâm sàng và phân tử thông qua mô hình hồi quy đa biến Cox: xác định ưu thế sống thêm của đột biến mất đoạn exon 19 so với đột biến exon 21, ảnh hưởng bất lợi của tiền sử hút thuốc lá, và đặc biệt chứng minh biểu hiện nổi ban trên da là dấu hiệu tiên lượng lâm sàng thuận lợi về đáp ứng điều trị và kéo dài sống thêm.
  1. Đóng góp về thực tiễn và điều trị:
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để các bác sĩ lâm sàng ung bướu tự tin chỉ định erlotinib như một lựa chọn điều trị bước 2 hiệu quả cho những bệnh nhân có đột biến gen EGFR nhưng chưa được tiếp cận thuốc TKI ở bước 1.
  • Ghi nhận hiệu quả cải thiện chất lượng sống có ý nghĩa thống kê thông qua bộ câu hỏi EORTC QOL-C30, hỗ trợ giảm liều và ngưng dùng thuốc giảm đau ở bệnh nhân giai đoạn muộn.
  • Cung cấp quy trình an toàn trong theo dõi và xử trí các tác dụng phụ thường gặp (hướng dẫn phân độ, kiểm soát nổi ban da, xử trí tiêu chảy và các mốc điều chỉnh giảm liều thuốc 50 mg), khẳng định tính dung nạp và an toàn của phác đồ trong điều kiện thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Khuyến cáo triển khai xét nghiệm đột biến gen EGFR thường quy cho tất cả bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ, đặc biệt là ung thư biểu mô tuyến, ngay từ thời điểm chẩn đoán ban đầu để định hướng kế hoạch điều trị toàn diện.
  • Đối với các trường hợp mang đột biến gen EGFR nhạy cảm thuốc chưa được dùng TKI ở bước 1 do các điều kiện khách quan, cần chỉ định erlotinib ngay sau khi bệnh tiến triển với hóa trị.
  • Cần theo dõi sát tác dụng phụ nổi ban da trong những tuần đầu dùng thuốc để có biện pháp chăm sóc da phù hợp, động viên bệnh nhân tuân thủ điều trị vì đây là dấu hiệu dự báo đáp ứng tốt.
  • Đề xuất các cơ quan quản lý y tế và bảo hiểm y tế mở rộng phạm vi chi trả cho xét nghiệm gen và thuốc điều trị nhắm trúng đích erlotinib nhằm tạo điều kiện cho bệnh nhân tiếp cận điều trị tuần tự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu là quan sát mô tả thuần tập lâm sàng không có nhóm đối chứng ngẫu nhiên đối đầu trực tiếp giữa điều trị erlotinib bước 1 so với điều trị tuần tự sau hóa trị.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 79 bệnh nhân tại ba bệnh viện ở khu vực phía Bắc, chưa mở rộng ra các trung tâm ung bướu trên toàn quốc.
  • Nghiên cứu chỉ tập trung vào hai loại đột biến thường gặp ở exon 19 và exon 21, chưa phân tích được các đột biến hiếm gặp (như G719X ở exon 18, L861Q ở exon 21 hay các đột biến chèn đoạn ở exon 20).
  • Chưa tiến hành sinh thiết lại tổn thương khối u tại thời điểm bệnh tiến triển sau khi dùng erlotinib để phân tích cơ chế kháng thuốc mắc phải (như đột biến T790M hay khuếch đại gen MET) do hạn chế về điều kiện kỹ thuật xâm lấn và kinh phí xét nghiệm ở giai đoạn nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn trên phạm vi toàn quốc.
  • Triển khai các nghiên cứu theo dõi cơ chế kháng thuốc thứ phát sau erlotinib bằng kỹ thuật sinh thiết lỏng (phân tích DNA khối u lưu hành - ctDNA trong máu) để phát hiện sớm đột biến kháng thuốc T790M, làm cơ sở chỉ định các thuốc TKI thế hệ 3 như osimertinib.
  • Nghiên cứu kết hợp thuốc ức chế tyrosine kinase với các biện pháp điều trị toàn thân khác (như thuốc kháng sinh mạch hoặc thuốc ức chế trạm kiểm soát miễn dịch) nhằm kéo dài thời gian kiểm soát bệnh.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong ngành y tế:

  • Đối với bác sĩ chuyên khoa Ung bướu và Hô hấp: Luận án cung cấp các bằng chứng lâm sàng trực tiếp về chỉ định, hiệu lực và độ an toàn của erlotinib liều 150 mg/ngày trong điều trị bước tiếp theo cho bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến phổi mang đột biến EGFR; là tài liệu hướng dẫn hữu ích về cách đánh giá đáp ứng khối u theo RECIST 1.1, quản lý tổn thương di căn não và kinh nghiệm theo dõi, xử trí các tác dụng phụ trên da và đường tiêu hóa.
  • Đối với giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh y học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp sinh học phân tử; quy trình ứng dụng bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống EORTC QOL-C30; kỹ thuật xây dựng đường cong sống thêm Kaplan-Meier và phương pháp phân tích hồi quy đa biến Cox để xác định các yếu tố tiên lượng.
  • Đối với nhà quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách bảo hiểm y tế: Luận án là tài liệu thực chứng khoa học khẳng định lợi ích sống còn và tính an toàn của thuốc nhắm trúng đích tại Việt Nam, đóng góp dữ liệu cho việc xây dựng phác đồ điều trị quốc gia và cơ sở chi trả bảo hiểm y tế cho thuốc điều trị đích.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nhóm nghiên cứu của luận án là gì? Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn: từ 18 tuổi trở lên; chẩn đoán xác định là ung thư biểu mô tuyến của phổi giai đoạn muộn (giai đoạn IIIB–IV theo AJCC 2010 hoặc tái phát, di căn); có xét nghiệm xác định mang đột biến gen EGFR tại exon 19 hoặc exon 21; đã được điều trị và thất bại với ít nhất một phác đồ hóa chất trước đó; được điều trị bằng erlotinib đơn thuần liên tục ít nhất 2 tháng tính đến thời điểm đánh giá; có tổn thương đích đo lường được trên phim chụp để đánh giá đáp ứng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1; và có đầy đủ hồ sơ bệnh án theo dõi cho đến khi kết thúc nghiên cứu.

  2. Luận án khảo sát các dạng đột biến gen EGFR nào và cơ chế tác dụng của thuốc erlotinib ra sao? Luận án tập trung vào hai nhóm đột biến hoạt hóa thường gặp nhất tại vùng gắn ATP của thụ thể EGFR: đột biến mất đoạn trên exon 19 (xóa các acid amin từ vị trí 747-leucine đến 749-glutamic, LREA) và đột biến điểm trên exon 21 (L858R, thay thế arginine bằng leucine tại codon 858). Về cơ chế, erlotinib là phân tử nhỏ ức chế cạnh tranh thuận nghịch với phân tử ATP tại vị trí gắn của vùng tyrosine kinase nội bào thuộc thụ thể HER1/EGFR, ngăn chặn quá trình phosphoryl hóa, từ đó cắt đứt các dòng tín hiệu nội bào qua con đường RAF-MEK-MAPK và PI3K-AKT-mTOR, làm giảm tăng sinh tế bào, ức chế xâm lấn di căn và kích hoạt tế bào chết theo chương trình.

  3. Tác dụng không mong muốn nào xuất hiện phổ biến nhất và có ý nghĩa gì đối với hiệu quả điều trị? Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là độc tính trên da, biểu hiện bằng nổi ban dạng sẩn mủ, trứng cá (chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu xuất hiện ở vùng mặt, ngực, lưng) và tiêu chảy ở đường tiêu hóa. Phần lớn độc tính ở mức độ 1 và 2 theo thang điểm CTCAE, hiếm gặp độ 3 và kiểm soát tốt bằng điều trị triệu chứng hoặc giảm liều tạm thời. Đặc biệt, qua phân tích thống kê và hồi quy đa biến, luận án ghi nhận những bệnh nhân có biểu hiện nổi ban trên da đạt tỷ lệ đáp ứng khách quan cao hơn, thời gian sống thêm không tiến triển (STKTT) và sống thêm toàn bộ (STTB) dài hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không nổi ban, chứng minh nổi ban da là một chỉ dấu sinh học lâm sàng dự báo đáp ứng điều trị thuận lợi.

  4. Vì sao bệnh nhân có đột biến gen EGFR trong nghiên cứu lại được điều trị erlotinib ở bước 2 thay vì bước 1? Trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2009 đến 2015 tại Việt Nam, thuốc erlotinib ban đầu (từ năm 2009) chỉ được cấp phép cho điều trị bước 2 sau khi thất bại với