chương 1, 2, 3 và thay thế các sơ đồ dùng mạch điện tử bằng sơ đồ dùng tranzito và mạch khuếch đại thuật toán trong chương 16. Các chương còn lại do PTS Hồ Anh Túy biên soạn. Mặc dù đã cớ nhiều cố gắng trong việc hoàn chỉnh bản thảo cho lần xuất bản này, nhưng chắc không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý kiến để chúng tôi tiếp tục sửa chữa, bổ sung.
Chúng tôi xin bày tổ lời câm ơn PTS Phạm Minh Hà đã phản biện, và động viên chúng tôi hoàn thành bộ sách này. Tác giả Chương Ï NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ BẢN VỀ MẠCH ĐIỆN Mo dau Dạng vật lý cuối cùng của tin hiéu radio là sóng điện từ và việc tạo ra, tiếp thu cũng như xử lý nó là những quá trình khá phức tạp. Các quá trình này xảy ra trong các hệ thống thiết bị điện khác nhau mà việc phân tích sẽ được tiến hành rất thuận lợi thông qua một loại mô hình gọi là các mạch điện. Như vậy xét theo quan điểm xử lý tín hiệu, có thể coi mạch điện là mô hình của các hệ thống tạo và biến đổi tín hiệu rađiôê khác nhau.
Các mô hình này được xây dựng nhằm phục vụ các yêu cầu phân tích và tinh toán các hệ thống đó. Bằng ngôn ngữ toán học có thể nơi, mạch điện là mô hình của hệ thống điện, thực hiện một toán tử nào đó trên các hàm số đặc trưng cho các tín hiệu hay tạo ra các hàm sé do. Vì sự tạo ra và biến đổi các tín hiệu rađiô là những quá trình phức tạp, cho nên các hệ thống thực hiện chúng thường có kết cấu kỹ thuật rất phức tạp bao gồm nhiều loại phần tử khác nhau nối ghép với nhau theo nhiều cách khác nhau. Mỗi phần tử, coi như một bộ phận của cả hệ thống, đều có nhiệm vụ riêng đặc trưng bởi các thông số của nó và phụ thuộc vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống.
Do đơ có thể-nới rõ hơn: mạch điện là mô hình của các hệ thống tạo và biến đổi tín hiệu hay một phần của các hệ thống đó biểu diễn (bằng hình vẽ hay bằng các phương tiện toán học khác) qua các thông số đặc trưng cho các phần tử hợp thành của chúng. Cách biểu diễn này phải phản ảnh hay cho phép phân tích được các hiện tượng vật lý về điện xảy ra trong hệ thống trong quá trình làm việc của nó, đồng thời cho phép tính toán và thiết kế kỹ thuật các hệ thống đó. Nhiệm vụ của lý thuyết mạch điện là tìm cách biểu diễn nây, đồng thời xây dựng các phương pháp phân tích và tính toán thích hợp. Cơ sở của lý thuyết dựa trên những khái niệm và định luật vật lý, kết hợp với những công cụ toán khác nhau mà học sinh đã được trang bị đầy đủ trong quá trình học các môn khoa học cơ bản.
Do đó, đối với những vấn đề này ở đây sẽ không nhấc lại một cách hệ thống và toàn diện mà chỉ đề cập đến khi cần thiết cho việc trình bày và phân tÍch. Cũng trong khuôn khổ của định nghĩa mạch điện và lý thuyết mạch, cần chú ý đến sự khác nhau về hình thức của mạch điện vừa định nghĩa ở trên, với những cái thường gọi là sơ đồ máy. Cơ thể thấy sự khác nhau này như sau: mạch điện là biểu diễn (thường là bằng hình vẽ) của các hệ thống điện thông qua các thông số của các phần tử hợp thành của nó, còn sơ đồ là biểu diễn hình vẽ của sự nối ghép các phần tử của một hệ thống điện thông qua các ký hiệu của các phần tử đó. Mạch điện là một công cụ lý thuyết cho phép phân tích va tinh toán các hệ thống điện, còn sơ đồ chỉ là một phương tiện kỹ thuật phần ánh quá trình mối ghép các phần tử, nghĩa là một khía cạnh nào đó của kết cấu kỹ thuật của hệ tuyển sang xét các thông số của mạch điện.
Để thực hiện các nhiệm vụ ñ của mạch điện, có thể xếp các thông số của nó theo hai loại cơ bản 1. Các thông số tác động hay thông số tạo nguồn. Dớ là các thông số đặc trưng cho tính chất tạo ra tín hiệu (có Ích hay không) và cung cấp năng lượng của các phần tử mạch điện. Thuộc loại này có hai thông số cơ bản là sức điện động e và dòng diện ¿, 2.
Các thông số thụ động, đặc trưng cho các tính chất khác với tạo nguồn (không tác động) clic. Về loại thông số này, người ta còn chia ra các thông số quán tính và không quán tính, hay tích lũy và tiêu tán năng lượng. Các thông số tác động của mạch điện Trong các hệ thống radiô, có nhiều phần tử cớ khả năng tự nó, hay khi chịu các tác động kích thích không điện từ ở bên ngoài, tạo ra ở những điểm nào đó các điện áp hay dòng điện khác nhau (_ Dể đặc trưng cho khả năng này, người ta thường dùng thông số sức điện động. Đồng thời người ta qui ước gọi các phần tử này bằng một tên chung là nguồn.
Ví dụ, các bộ pin (pin khô, pin không khí, pin mặt trời, pin nguyên tử,.) áoqui (axit, kiêm. do sy chuyển hóa các đạng năng lượng khác như hớa năng, nhiệt năng, cơ năng, nguyên tử năng v. thành điện năng, sính ra ở hai cực của chúng một điện áp nào đớ. Các phần tử quang điện dưới tác dụng của ánh sáng, các micrô- phôn dưới tác dụng của âm thanh, các phần tử áp điện hay từ giảo dưới tác dụng của các rưng động cơ giới, các vật dẫn điện đặt trong môi trường điện từ biến thiên, v.
cũng cớ tính chất như vậy. Các phần tử điện trở, do chuyển động hồn loạn của các điện tích tự do trong chúng dưới tác dụng nhiệt, cũng sinh ra ở hai đầu một điện áp, tuy-rằng-có thể rất nhỏ. Z*z điện áp tạo ra như vậy có thể cơ chiều cố định (gọi là điện áp một chiều) hay biến thiên theo thời gian theo những qui luật khác nhau. Theo định nghỉa, sức điện động của một nguồn ứng với một cặp đầu của nó là giá trị của điện áp nhận được trên cập đầu khi xét nguồn một cách riêng rẽ (không nối với bất kỳ một phần tử hay hệ thống phần tử nào có độ dẫn điện khác không), hay như người ta thường nơi bằng giá trị của điện áp hở mạch của nguồn đơ.
` Với định nghĩa như vậy, sức điện động là một lượng vật lý có cùng thứ nguyên với điện áp và đo bằng đơn vị "vôn" ký hiệu V. Như đã nơi ở trên, sức điện động của một nguồn có thé ed gid trị cố định, cũng có thể biến thiên theo thời gian. Do đó về mật giải tích cớ thể biểu diễn một cách tổng quát sức điện động của một nguồn bằng một hàm số của thời gian e(). Về mật ký hiệu hình vẽ có thể có nhiều cách biểu điễn khác nhau như trong hình 1-1, trong đó hình tròn là đặc trưng chung cho sức điện động.
Các cách biểu điễn 1-1ø và 1-16 dựa trực tiếp vào dạng biến thiên theo thời gian của sức điện động. Hình 1-1z biểu (1) Ở đây chúng ta gập hai khái niêm cả bản của lý thuyết mạch diên [à diện áp và dòng điện. Hai thông số này xác định trang thái về điện của các hệ thống hay từng bộ phận của nó (dược mô hình hỏa hằng mạch điện) ở các thai điểm khác nhau tiên còn được gọi là các thông số trạng thái cơ bản của mạch. Khải niệm điện áp rút ra từ khái niêm diễn thể đã có trong vật lý.
Chúng ta coi didn ap giữa hai điểm là hidu sổ diện thể giữa hai diểm đó, Thông thưởng, trong phân tích mạch điện. người ta chọn một điỂm của mạch lâm gốc, coi như có điện thế không, và lúc đó nói điên áp ở một điểm nào đó, có nghĩa là điên thế của điểm đó so với gốc chung. Còn dòng diện, chúng ta coi là biểu hiện của sự chuyển động của điện tích trong dây dẫn cũng như trong các phần tử của mạch (dòng điện dẫn) hay nhiều khí chỉ là-sự biến thiên của điên trường thco thời gian (đồng điền dịch). điễn sức điện động biến thiên theo thời gian một cách điều hòa (qui luật sin), còn hình 1-16.
theo các xung vuông góc (tuần hoàn hay đơn). Rõ ràng là với các dạng biến thiên khác của sức điện động đều có cách biểu diễn tương ứng. Cách biểu diễn hình 1-1e đặc biệt thuận lợi cho các trường hợp tính toán, nớ xác định tinh chất đại số (chiều) của sức điện động. Chúng ta sẽ nơi rõ hơn về vấn đề này trong phần sau.
4 T @ 3 Yea’ Y ec ©) ® 7 ean’ e@y’ ed | - ing § fg tg &) a -`. a’ b a’ ) 8 2° @ a 6) Ad Hinh Ld. Một đặc điểm của các nguồn sức điện động là khi nối hai đầu của nớ với các phần tử khác cơ độ dẫn điện khác không (mạch ngoài đóng kín) nó sẽ cung cấp cho mạch ngoài một dòng điện. Dòng điện cung cấp có thể phụ thuộc tính chất dẫn điện của mạch ngoài, cũng như cơ thể không.
Trong trường hợp đặc biệt, khi mạch ngoài đẫn điện hoàn toàn (ngắn mạch nguồn), có thé coi dòng điện do nguồn cung cấp lúc đơ (gọi là dòng điện ngắn mạch hay dòng điện nguồn), như một thông số đặc trưng của nguồn và đo bằng đơn vị ampe (A). Cũng giống như thông số sức điện động e(/), người ta ký hiệu hình vẽ cho thông số này như trong hình 1-2 trong đó hình tròn kép là đặc trưng cho dòng điện ngườn i,,(0), và các cách biểu điễn hình 1-2ø và 1-2 cũng cớ tính chất giống như trong các hỉnh 1-lø và 1-16 đã nói ở trên. Hãy nói rõ về các cách biểu điễn hình 1-1e cũng như 1-2e. Mũi tên trong các hình này chỉ chiều qui ước của đòng điện đi qua nguồn (ở đây, từ ø' đến ở).
Nếu các đầu dø' của nguồn được nối với mạch ngoài thụ động có độ dẫn điện khác không thì dòng điện mà nguồn cung cấp cho mạch ngoài sẽ có chiều ngược với chiều đòng điện chạy trong nguồn, nghĩa là theo qui udc, di tit a dén a’ tạo thành một đường đi kín. Nếu trong mạch thực tế, ở một thời điểm nào đó, đồng điện thực cùng chiều với chiều qui ước thì nó có giá trị dương và ngược lại, có giá trị âm. Riêng đối với hình 1-1c qui ước về chiều của dòng điện chạy trong nguồn dẫn đến qui ước về dấu của sức điện động.