Chương 1: Những nguyên lý cơ bản và các đặc trưng đo lường Dạng đơn giản nhất của mạch đo bao gồm cảm biến, bộ phận biến đổi tín hiệu và thiết bị chỉ thị, thí dụ mạch đo chỉ gồm một cặp nhiệt ghép nối trực tiếp với một milivôn kế. Tuy nhiên, điều kiện đo trên thực tế thường do môi trường bao quanh đòi hỏi, đồng thời do sự cần thiết của việc khai thác tín hiệu, mạch đo thường bao gồm nhiều thành phần trong đó có các khối để tối ưu hóa việc thu thập dữ liệu và để xử lý đữ liệu, thí dụ như mạch tuyến tính hóa tín hiệu nhận từ cảm biến, mạch khử điện dung ký sinh, các bộ chuyển đổi nhiều kênh, bộ khuếch đại, bộ so pha lọc nhiễu, bộ chuyển đổi tương tự - số, bộ vi xử lý, các thiết bị hỗ trợ.9 biểu điễn một mạch điện đo điện thế trên bể mặt mang nhạy quang được lắp ráp từ nhiều phần tử. I MAY IN a Y Ỷ D PC ADC > CPU 6 4 2 4 a ` x MÀN PA 3 HINH I- Máy phát chức năng 2- Cảm biến điện tích 3- Tiên khuếch đại 4- So pha lọc nhiễu 5- Khuếch đại 6- Chuyển đổi tương tự số 7- May tinh Hinh 1.9: Mach do dién thé bé mat. Sai số của phép đo Sản phẩm của mọi phép đo đều được ghi lại ở đạng này hoặc dạng khác, có khi là một con số, cũng có khi là một đường cong.
Song bất luận trong trường hợp nào, cho dù phép đo có rất đơn giản thì kết quả của nó cũng đều chứa đựng sai số. Các giá trị của mọi đại lượng cần đo đều chỉ có thể biết được sau khi xử lý qua mạch đo. Chính giá trị thực của đại lượng đo xác định sự kích thích tác động lên cảm biến, nhưng người làm thực nghiệm chỉ có được đáp ứng tổng thể của hệ đo. đáp ứng này được biểu diễn qua đơn vị học Bách khoa Hà Nội 23 Trường Đại Chương 1.
Những nguyên lý cơ bản và các đặc trưng do lường của đại lượng đo và được gọi là giá trị đo. Hiệu số giữa giá trị thực và giá trị đo được là sai số của phép đo. Sai số của phép đo chỉ có thể được đánh giá một cách ước tính bởi vì không thể biết giá trị thực của đại lượng đo. Khi đánh giá sai số người ta thường phân chúng làm hai loại, sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên.
Sai số hệ thống Có thể đưa ra một thí dụ để minh hoạ sai số hệ thống. Giả sử ta đo một đại lượng đã biết trước giá trị thực của nó. Nếu như giá trị trung bình của các giá trị đo được luôn luôn lệch khỏi giá trị thực không phụ thuộc vào số lần đo liên tiếp thì ta nói trong-trường hợp này có sai số hệ thống. Đối với một giá trị cho trước của đại lượng đo, sai số hệ thống có thể không đổi hoặc thay đổi chậm theo thời gian đo: nó thêm vào một độ lệch không đổi giữa giá trị thực và giá trị đo được.
sai số hệ thống thường có nguyên nhân do sự hiểu biết sai lệch hoặc không dây đủ về hệ đo hay do điều kiện sử dụng không tốt. Trong phần tiếp theo của để mục này sẽ trình bày những nguyên nhân thường gặp của sai số hệ thống. Sai số do giá trị của đại lượng chuẩn không đúng: Thí dụ, điểm 0 của thiết bị đo bị lệch khỏi vị trí, giá trị sai lệch của nhiệt độ chuẩn cặp nhiệt (trường hợp dùng hỗn hợp nước-nước đá không sạch), giá trị điện áp nuôi cầu đo không chính xác. Những sai số loại này có thể giảm bằng cách kiểm tra kỹ càng các thiết bị phụ trợ trong mạch do.
Sai xố do đặc tính của cảm biến: Sai số độ nhạy hoặc sai số của đường cong chuẩn là nguyên nhân thường gặp dẫn đến sai số hệ thống. Thí dụ, hệ số K của cảm biến ứng lực thường do nhà sản xuất xác định dựa trên việc đo K của các cảm biến cùng được chế tạo một lần (cùng một lô sản phẩm). Tuy nhiên một cảm biến đặc biệt nào đó trong lô có thể có hệ số K khác đôi chút so với K của cảm biến đã kiểm định. Trường hợp già hóa của cảm biến do độ mỏi cơ học của các phần tử của cảm biến hoặc hư hỏng hóa học cũng thường kéo theo sự sai lệch khỏi đường cong chuẩn ban đầu, đặc biệt đối với cặp nhiệt và nhiệt điện trở.
Để tránh sai số hệ thống trong những trường hợp như vừa nêu ở trên, cần phải thường xuyên chuẩn lại cảm biến. 24 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cở bản và các đậc trưng do lường Chương 1: Những nguyên lý Sui xố do điều kiện và chế độ sử dụng: thường có hạn. Bởi vậy Tốc độ đáp ứng của cảm biến và các thiết bị phụ trợ động bình thường của hệ tất cả các phép đo tiến hành trước khi chế độ hoạt đo nhiệt độ có tốc độ đáp đo được thiết lập đều chứa sai số. Thí dụ, một đầu trong chat lỏng đứng yên ứng rất khác nhau phụ thuộc vào việc nó được dat hay có dòng chảy.
dẫn đến sai số, thí dụ Sự có mặt của cảm biến làm thay đổi đại lượng đo nhiệt không thé bo qua trường hợp đầu đo nhiệt có nhiệt dung và quán tính khi nó được đặt trong môi trường có thể tích nhỏ. Sai số do xứ lý kết quả đo: giá không chính xác Sai số dạng này thường là hậu quả của sự nhận xét đánh điểm có độ lệch lớn để khi tiến hành hiệu chỉnh các kết quả đo chứa những : minh chứng nhận được giá trị chính xác hơn. Có thể lấy vài thí dụ để cảm biến giả - Kết quả đo lệch khỏi độ tuyến tính trong phép đo sử dụng dẫn đến xử lý sai thiết là tuyến tính. Trường hợp này do giả thiết sai kết quả đo.
môi trường cần do khác - Nhiệt độ đo được của cảm biến và nhiệt độ vỏ cảm biến hoặc dây nhau, nguyên nhân là do có độ dẫn nhiệt của tiêu hao nhiệt lượng dẫn. Trường hợp này do không đánh giá đúng sự nên xử lý sai kết quả đo. Sai số ngẫu nhiên xuất hiện cũng như dấu và Sai số ngẫu nhiên của phép đo là sai số mà sự Một số nguyên nhân của sai biên độ của chúng mang tính không xác định. của chúng thì không thể số ngẫu nhiên có thể dự đoán được nhưng độ lớn có thể dẫn đến sai số biết trước.
Dưới đây trình bày một số nguyên nhân ngẫu nhiên. thiết bị: Sai số do tính không xác định của đặc trưng của thiết bị. O dudi mot Nguyên nhân đầu tiên có thể gặp là tính linh động đến sự thay lượng đo không dain giá trị ngưỡng nhất định, sự thay đổi của đại cảm biến cung cấp. Thí dụ đổi có thể phát hiện được của tín hiệu điện do n của con chạy đi một trường hợp điện thế kế loại đây cuốn, sự dịch chuyể bất kỳ sự dây sẽ không gây nên khoảng nhỏ hơn khoảng cách giữa hai vòng trên con chạy.
Sai số độ linh động bằng biến thiên thay đổi nào của điện thế Hà Nội 25 Đại học Bách khoa Trường Chưcng 1: Những nguyên lý cơ bản và các đặc trưng đo lường lớn nhất của đại lượng đo để gây nên sự thay đối có thể nhận biết được của đại lượng đầu ra của cảm biến. Nguyên nhân sai số cũng có thể là do đọc sai số liệu. Sự sai lệch này, một mặt dù ít hoặc nhiều do thói quen của người làm thực nghiệm, nhưng mặt khác do chất lượng thiết bị, thí dụ độ mảnh của kim chỉ thị của đồng hồ đo cũng có thể gây nên sai số. Kết hợp sai số độ linh động e„„ và sai số đọc số liệu e¿ sẽ xác định sai số độ phân giải ,.
Sai số độ phân giải là biến thiên nhỏ nhất có thể đo được của đại lượng đo: 2 2 £; =vVEm +E£ (1.5) Sai số trễ xảy ra khi một trong những thành phần của mạch đo chứa phần tử có độ trễ (thí dụ trễ cơ học của lò so, trễ từ của vật liệu sắt từ). Đáp ứng của hệ đo trong trường hợp này phụ thuộc vào điều kiện sử dụng trước đó. Sửi xố do tín liệu nhiễu ngẫu nhiên: Nhiễu nền gây nên kích thích nhiệt của hạt dẫn trong các điện trở hoặc trong các linh kiện tích cực làm xuất hiện thăng giáng điện áp chồng lên tín hiệu có ích ở đầu ra. Cảm ứng ký sinh do búc xạ điện từ, đặc biệt ở tần số công nghiệp, cũng là nguyên nhân gây nên sai số.
Thăng giáng điện áp nguồn làm thay đổi hoạt động của thiết bị (mạch ổn áp, khuếch đại) do đó thay đổi biên độ của tín hiệu cần xử lý và không thể phân biệt sự thay đổi này với biến thiên của đại lượng đo. Đó cũng là nguyên nhân của sai số ngẫu nhiên có nguồn gốc là tín hiệu nhiễu. Sai xố do các đại lượng ảnh hưởng: Hậu quả của sự thay đổi của các đại lượng ảnh hưởng không được tính đến trong khi chuẩn cảm biến. Bởi vậy sự đóng góp của chúng trong kết quả đo được xem như sai số ngẫu nhiên.
Thí dụ, nếu một thiết bị được chuẩn ở 20 °C thì mọi thay đổi nhiệt độ ở đưới và trên 20 °C đều kéo theo những biến thiên trong hoạt động của thiết bị và của tín hiệu đo được. Biện pháp giảm sai số ngẫu nhiên: Trong nhiều trường hợp, có thể giảm độ lớn của sai số ngẫu nhiên bằng một số biện pháp thực nghiệm thích hợp, thí dụ: bảo vệ mạch đo bằng 26 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các đãc trưng đo. lường 1: Nhitng nguyên lý có bản Chương môi trường đo, sử dụng các giá đỡ cách ổn định nhiệt độ và độ ẩm của điều chỉnh điện áp nguồn nuôi, các chống rung, sử dụng các bộ tự động giải thích hợp, che chắn và nối bộ chuyển đổi tương tự - số có độ phân tín hiệu đo v. Ngoài ra, việc áp đất các thiết bị đo điện, sử dụng bộ lọc giảm bớt một biện pháp tốt để dụng chế độ vận hành đúng đấn cũng là sai số ngẫu nhiên.
và độ chính xác 4. Tính trung thực, tính đúng đắn đo bị tản mạn khi đo lặp lại. Tuy Sai số ngẫu nhiên làm cho các kết quả định được giá trị xác kê có thể xác nhiên, bằng phương pháp xử lý thống sai số.