Chương 1 GVHD: TS. Trương Việt Anh EU15 có 14.000 công trình thủy điện nhỏ, với công suất trung bình của mỗi trạm là 0,7 MW, so với 2.800 công trình tại EU10 (10 nước gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 2004) có công suất trung bình của mỗi trạm chỉ là 0,3 MW. Vào cuối năm 2005, tổng công suất phát của thuỷ điện nhỏ của EU15 là 11.601 MW, trong đó chỉ riêng 6 nước đã chiếm đến 84,5%: Italia (2.060 MW), Tây Ban Nha (1.062 MW) và Thụy Điển (905 MW) [Trang tin điện tử ngành Điện]. Năng lƣợng mặt trời Đối với các nước nằm trong vùng nhiệt đới, số giờ nắng trung bình khoảng 2000-2500 giờ/năm với tổng năng lượng bức xạ mặt trời trung bình khoảng 150kCal/cm2/năm [16].
Tuy nhiên nguồn năng lượng này chưa được khai thác triệt để do những hạn chế về công nghệ và giá thành đầu tư. Xét về quy mô toàn cầu thì nguồn năng lượng này không lớn lắm nhưng nó có ý nghĩa với một số quốc gia như: Ấn độ, Trung Quốc và Châu Phi vì ở đó mạng lưới điện năng còn thưa thớt.6: Hệ thống pin dùng năng lượng mặt trời. Các nghiên cứu liên quan đã công bố: - Các tác giả Trương Quang Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Bình, Hồng Bảo Trân trường Đại học Bách Khoa TP. HCM đã nghiên cứu đề tài “Xác định dung lượng và vị trí của máy phát phân bố (DG) tối ưu tổn thất lưới phân phối” [6].
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp điểm trong để xác định vị trí và dung lượng của DG nhằm tối HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 11 Luan van Chương 1 GVHD: TS. Trương Việt Anh ưu tổn thất lưới phân phối, kết quả áp dụng trên lưới 10 nút và lưới 42 nút đạt được khá tốt. Kết quả tính toán cho thấy vị trí đặt DG tối ưu là tại nút có công suất tải tiêu thụ lớn nhất trong lưới phân phối. Độ giảm tổn hao trên lưới phân phối sau khi có DG so với trước khi có DG nhiều hay ít phụ thuộc vào lượng công suất phát ra của DG.
Sự tham gia của DG vào hệ thống phân bố sẽ đạt được một số lợi ích về mặt kỹ thuật như: giảm tổn hao đường dây, cải thiện chỉ số điện áp, nâng cao chất lượng điện năng, tăng độ tin cậy trong việc truyền tải và phân phối, v. - Các tác giả Lê Kim Hùng – Đại học Đà Nẳng, Lê Thái Thanh – Điện lực Phú Yên đã công bố nghiên cứu “Tối ưu hóa vị trí đặt và công suất phát của nguồn phân tán trên mô hình lưới điện phân phối 22kV” [7]. Bài báo mô tả cách sử dụng giải thuật di truyền để tìm ra vị trí đặt và công suất phát tối ưu của nguồn phân tán trên mô hình lưới điện phân phối 22kV. Tổn thất công suất được cực tiểu hóa trong khi dạng điện áp đường dây được cải thiện tốt hơn.
Nghiên cứu áp dụng trên lưới điện 20 nút kết quả đạt dược như sau: + Tổng công suất phát của DG là 5,4 +j2,7 (MVA). + Vị trí kết nối: 7, 8, 17, 20, 21. + Tỷ lệ % giảm tổn thất là 58,46%. + Tỷ lệ % tăng điện áp cao nhất 3,32%.
Việc kết hợp phương pháp Newton-Raphson trong tính toán trào lưu công suất lưới điện và giải thuật di truyền giải các bài toán tối ưu tổ hợp đã cung cấp một cách thức tìm ra các vị trí đặt và công suất phát tốt nhất cho một số lượng nguồn phân tán DG cho trước trên lưới điện phân phối. Phương pháp này cho phép người vận hành có thể nghiên cứu một mạng phân phối bất kỳ. Người vận hành có thể sử dụng những thông tin về lưới điện phân phối có sẵn để lập kế hoạch cho việc kết nối DG nhằm đạt mục tiêu giảm tổn thất, cải thiện dạng điện áp như mong muốn. HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 12 Luan van Chương 1 GVHD: TS.
Trương Việt Anh - Nhóm tác giả César Augusto Peñuela Meneses, Member, IEEE, and José Roberto Sanches Mantovani, Member, IEEE đã công bố nghiên cứu “Improving the Grid Operation and Reliability Cost of Distribution Systems With Dispersed Generation”[21]. Nghiên cứu sử dụng giải thuật tìm kiếm Taboo để giải quyết bài toán đa mục tiêu nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện khi có kết nối DG vào hệ thống. Nghiên cứu đưa ra một phương pháp giải quyết tối ưu hàm mục tiêu gồm các chi phí hoạt động của lưới, chi phí hệ thống bảo vệ, chi phí gián đoạn do ngừng cung cấp điện, chi phí tổn thất công suất. Mô hình toán học đề xuất được thử nghiệm trên hệ thống 135 bus trong đó bao gồm một hệ thống phân phối thực tế 13,8 kV ở Sao Paulo, Brazil.
Kết quả mô phỏng của một hệ thống qua kiểm tra thực tế cho thấy mô hình đề xuất có thể xác định các tác động liên quan đến độ tin cậy của hệ thống, hệ thống bảo vệ, và hiệu quả hoạt động của mạng, tất cả chỉ trong một chương trình. Thông qua các phương pháp thực hiện, lợi thế đạt được là khả năng quan sát điện áp và tần số của hệ thống khi có kết nối DG. Người ta thấy rằng thực hiện kết nối DG như thế này, dẫn đến chi phí hoạt động và chi phí độ tin cậy sẽ tốt hơn, bởi vì họ sử dụng các mức giá khác nhau được cung cấp bởi các nguồn phát trên diện rộng. Nó cũng có thể phục vụ nhu cầu phụ tải tăng lên một cách đột biến.
Tuy nhiên, thiết kế này có thể dẫn đến một hệ thống bảo vệ đắt tiền, cũng như làm giảm tỷ suất lợi nhuận trong việc phối hợp các thiết bị bảo vệ. Từ những nghiên cứu đã công bố nêu trên, trong khuôn khổ luận văn này chủ yếu tập trung vào vấn đề giảm tổn thất công suất và nâng cao độ tin cậy lưới phân phối khi có kết nối DG sử dụng giải thuật di truyền, các vấn đề liên quan đến cải thiện điện áp và cải thiện vận hành lưới thông qua việc thay đổi các thiết bị bảo vệ trên hệ thống sẽ không được xem xét. HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 13 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh CHƢƠNG 2 CÁC BÀI TOÀN LIÊN QUAN ĐẾN DG 2.1 Mục đích vận hành DG: Các ứng dụng của DG bao gồm: nhiệt - điện kết hợp, công suất dự phòng, dự phòng công suất đỉnh và vận hành độc lập.
Tùy vào ứng dụng mà việc vận hành DG sẽ mang lại những lợi ích sau: - Trong trường hợp phụ tải của hệ thống đạt công suất đỉnh, hệ thống phân phối không thể thỏa mãn nhu cầu của phụ tải hoặc phải chấp nhận mua điện với giá cao. Phần điện năng thiếu hụt này sẽ do các DG đảm nhiệm. Hoặc trong trường hợp cần sa thải phụ tải trên lưới truyền tải do công suất truyền tải vượt quá giới hạn của đường dây, DG cũng được vận hành để đảm bảo cung cấp điện cho các phụ tải bị ảnh hưởng bởi giới hạn này. - DG được vận hành để cung cấp điện năng với giá rẻ.
Công suất của phụ tải trong hệ thống thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào chủng loại và đặc tính của từng phụ tải. Chi phí mua điện từ hệ thống truyền tải được xác định theo lượng công suất mua theo từng thời điểm. Vì vậy khi DG được kết nối vào mạng phân phối và xem như một nguồn phụ, người hoạch định công tác vận hành hệ thống có thể tận dụng giá rẻ từ một số DG nhằm giảm chi phí vận hành. - DG được vận hành để cung cấp điện năng khi nguồn hệ thống bị gián đoạn.
Khi có gián đoạn xảy ra, các phụ tải sẽ được cắt ra khỏi hệ thống bằng các thiết bị bảo vệ trên lưới như: máy cắt, recloser và được tái cấp điện bởi các DG. Trong trường hợp này DG cải thiện độ tin cậy cung cấp điện và làm giảm chi phí bồi thường do mất điện.2 Các bài toán liên quan đến DG: HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 14 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh Tùy thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu mà người ta có thể căn cứ vào lợi ích và ảnh hưởng của DG để phân chia thành các nhóm bài toán sau: Bài toán phối hợp bảo vệ rơ le. Bài toán giảm tổn thất trên đường dây.
Bài toán cải thiện điện áp, chỉ số điện áp. Bài toán nâng cao độ tin cậy. Bài toán đa mục tiêu xác định vị trí và tối ưu dung lượng DG. Ở khuôn khổ luận văn này chủ yếu tập trung vào các bài toán giảm tổn thất và nâng cao độ tin cậy.1 Bài toán đánh giá độ giảm tổn hao đƣờng dây: a- Chỉ số giảm tổn hao đƣờng dây (line loss reduction index – LLRI) Khi DG được đặt ở vị trí thích hợp, lợi ích thu được là giảm tổn thất trên đường dây.
Thông thường tổn thất sẽ tăng cao khi mạng điện vận hành đầy tải vì tổn hao tỷ lệ thuận với bình phương dòng điện. Tổn hao này góp phần làm tăng chi phí vận hành của hệ thống. Để đánh giá mức độ tổn hao trên hệ thống khi có kết nối DG người ta thiết lập các hệ số sau [6]: LL LLRI= (1) LL0 Trong đó: M LL I A2 ,i Ri Di chỉ số giảm tổn hao đường dây khi có kết nối DG; i 1 M LL0 I L2,i Ri Di chỉ số giảm tổn hao đường dây khi chưa kết nối DG; i 1 I A,i dòng điện trên nhánh thứ i sau khi có kết nối DG; HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 15 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh I L,i dòng điện trên nhánh thứ i khi chưa kết nối DG; Ri điện trở đơn vị nhánh thứ i; Di chiều dài nhánh thứ i; M số nhánh của mạng điện; b- Bài toán phân tích sự giảm tổn hao trên đƣờng dây khi có DG: Để phân tích giảm độ tổn hao, mô hình được chọn để phân tích là một phát tuyến hình tia với phụ tải tập trung cuối đường dây.
Dịch chuyển vị trí DG dọc theo phát tuyến và thay đổi công suất của DG để khảo sát sự thay đổi của độ giảm tổn thất. IL Nguồn Tải L Khoảng cách từ nguồn đến tải là L(km). IS IL Nguồn Tải IDG DG G L IDG G Khoảng cách từ nguồn đến vị trí kết nối DG là G (km). Giả thiết: hệ số công suất của tải là không đổi.
Công suất của phụ tải là SL=PL+jQL, dòng phụ tải sẽ là: ( PL jQL ) IL (2) 3VP Tổn hao trên phát tuyến khi không có DG kết nối là: rL( PL2 jQL2 ) LossB (3) 3VP2 HVTH: Nguyễn Đức Duy trang 16 Luan van Chương 2 GVHD: TS.