Chương 1 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP SA THẢI PHỤ TẢI 1.1 Tổng quan về sa thải phụ tải trong hệ thống điện Việt Nam Hệ thống điện trên thế giới nói chung và hệ thống điện ở Việt Nam nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì nó là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Một hệ thống điện chia thành ba phần chính: Phần phát điện bao gồm các nhà máy phát điện như: nhiệt điện bao gồm nhiệt điện chạy dầu (FO, DO), than, khí, hạt nhân, nhà máy thủy điện và một số loại phát điện khác. Phần truyền tải, đây cũng có thể được coi là hệ thống xương sống của một hệ thống điện bao gồm các đường dây cao áp, hạ và máy biến áp truyền tải. Phần tiêu thụ được trạm phân phối trung hạ áp đưa đến các công ty, xí nghiệp và hộ dân tiêu thụ.
Để đảm bảo phục hồi tần số khi có sự cố gây suy giảm tần số thì lượng công suất phụ tải sa thải phải ở mức 50-55%. Giới hạn phụ tải tối đa có thể sa thải áp dụng cho HTĐ Việt Nam là 55% [21]. Xác định mức cắt tải cho từng cấp tần số để tiết kiệm rơ-le tần số, độ lệch tần số giữa các cấp được chọn là 0.2Hz trong dải tần số từ 49. Tuy nhiên tại một số khu vực lưới điện chỉ liên kết với hệ thống qua một đường dây truyền tải (chẳng hạn khu vực miền Tây Nam bộ).
Sự cố mất đường dây này khi lưới điện khu vực đang nhận từ hệ thống một lượng công suất cao sẽ gây ra suy giảm tần số nghiêm trọng mà tác động của các cấp tần số nêu trên không đủ để phục hồi. Do vậy để tránh khả năng tách lưới giữ tự dùng của các tổ máy trong khu vực khi xảy ra tình huống sự cố như trên cần phải áp dụng cắt tải theo độ dốc tần số. Lê Kim Hùng, Vũ Phan Huấn [22] trình bày phương pháp sử dụng rơle sa thải phụ tải theo tần số có khả năng tích hợp các chức năng bảo vệ tần số và điện áp nhằm đảm bảo độ ổn định trong hệ thống điện bằng cách sa thải phụ tải hoặc cô lập lưới điện cục bộ trong điều kiện thấp tần và quá áp. Hiện nay, rơle tần số được lắp đặt tại các trạm biến áp và sa thải tải theo từng lượng công suất nhỏ, giúp cho tần số và điện áp lưới điện khôi phục lại trạng thái làm việc bình thường.
Các tác giả tập trung vào trình bày sơ đồ ứng dụng chức năng sa thải phụ 6 Luan van Báo cáo nghiên cứu khoa học tải mới dựa trên nguyên lý truyền thống sa thải tải, cho phép cắt các ngăn lộ theo từng cấp tần số, bắt đầu từ việc kiểm tra đấu nối nhị thứ, đến cài đặt thông số chỉnh định và cấu hình rơle trên phần mềm chuyên dụng giao tiếp rơle Micom Studio. Cuối cùng là ứng dụng sơ đồ sa thải phụ tải bằng rơle Areva P142 tại Trạm biến áp 110kV ĐăkMil.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu các chương trình sa thải phụ tải Các nghiên cứu về điều khiển sa thải phụ tải tập trung giải quyết các vấn đề: khôi phục tần số hệ thống ổn định với thời gian nhanh nhất, lượng tải sa thải ít nhất, chi phí thiệt hại khi mất điện là ít nhất. Có nhiều phương pháp khác nhau để sa thải phụ tải và phục hồi hệ thống đã được phát triển bởi các nhà nghiên cứu. Các kỹ thuật sa thải phụ tải về cơ bản được chia thành 3 mảng nghiên cứu chính: các kỹ thuật sa thải phụ tải truyền thống (Conventional Load Shedding), các kỹ thuật sa thải phụ tải thích nghi (Adaptive Load Shedding), và các kỹ thuật sa thải phụ tải thông minh ILS (Intelligent Load Shedding).1 Sa thải phụ tải truyền thống Sa thải phụ tải bằng relay tần số, hoặc điện áp là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất cho việc điều khiển ổn định tần số, ổn định điện áp của lưới điện và duy trì tính ổn định của lưới trong các điều kiện cần thiết.
Khi tần số hoặc điện áp giảm xuống dưới điểm làm việc đã được cài đặt, các relay tần số/điện áp của hệ thống phát tín hiệu cắt từng mức phụ tải, do đó ngăn cản sự suy giảm tần số/điện áp và các ảnh hưởng của nó. Sa thải phụ tải dưới tần số (UFLS) Sa thải phụ tải dưới tần số (UFLS) được áp dụng trong trường hợp có sự cố nghiêm trọng, làm giảm nhanh ở tần số do việc mất các máy phát điện. Theo tiêu chuẩn IEEE, sa thải dưới tần số phải được thực hiện một cách nhanh chóng để ngăn ngừa tần số hệ thống điện giảm bằng cách giảm tải hệ thống điện để đáp ứng cân bằng công suất phát điện hiện có [23]. Với mục đích này, giá trị ngưỡng tần số được thiết lập để bắt đầu sa thải phụ tải dưới tần số.
Giá trị tần số tối thiểu chấp nhận phụ thuộc vào thiết bị của hệ thống, chẳng hạn như các loại máy phát điện, thiết bị phụ trợ của nó, và quy định của mỗi quốc gia. Các relay UFLS được khởi tạo để sa thải một lượng tải cố định trong các bước được xác định trước, khi tần số giảm xuống dưới một ngưỡng nhất định nhằm ngăn ngừa sự cố tan rã lưới điện. 7 Luan van Báo cáo nghiên cứu khoa học Sa thải phụ tải dưới tần số được nhiều nhà vận hành hệ thống điện áp dụng: Hội đồng Điều phối độ tin cậy bang Florida (FRCC) [23], Hội đồng điện tin cậy của Texas ERCOT [23], Hệ thống điện Việt Nam [24]. - Đối với hệ thống điện hoạt động ở tần số 50 Hz (hoặc 60 Hz), tần số hoạt động cho phép tối thiểu thường được khuyến cáo theo nhà sản xuất cho tuabin là 47,5 Hz (57,5 Hz) [25- 26].
Điều này là cần thiết để bảo vệ máy phát điện và các thiết bị phụ trợ của nó bởi vì các dịch vụ phụ trợ nhà máy điện bắt đầu trục trặc ở tần số 47,5 Hz; tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng vào khoảng 44Hz đến 46 Hz. Hơn nữa, hoạt động phát điện tại 47,5 Hz hoặc thấp có thể làm hỏng cánh turbine và làm giảm tuổi thọ của nó [27]. Do đó, sa thải phụ tải trong hệ thống điện sẽ giúp ngăn chặn sự mất mát của máy phát điện, hư hỏng thiết bị, và mất điện. Đối với hệ thống điện Việt Nam, quy định tần số định mức trong hệ thống điện là 50Hz.
Ở các chế độ vận hành khác nhau của hệ thống điện, tần số được phép dao động trong phạm vi quy định. Tần số được phép dao động từ 49,8Hz đến 50,2Hz trong điều kiện vận hành bình thường. Khi sự cố xảy ra, tần số được phép dao động trong khoảng 49,5Hz đến 50,5Hz. Theo Quy trình lập kế hoạch, huy động dịch vụ điều tần và dự phòng quay, do Cục Điều Tiết Điện Lực Bộ công thương Việt Nam ban hành 2015 [24], điều khiển tần số ở Việt Nam được chia làm 03 cấp như sau : - Điều khiển tần số cấp I là đáp ứng của hệ thống máy phát nhằm duy trì tần số định mức 50,0Hz với dải dao động cho phép ± 0,2Hz.
- Điều khiển tần số cấp II là điều chỉnh tự động hoặc điều chỉnh bằng tay các tổ máy phát điện nhằm đưa tần số nằm ngoài khoảng 50,0 ± 0,5Hz về giới hạn trong khoảng 50,0 ± 0,5Hz. - Điều khiển tần số cấp III (sau đây viết tắt là điều tần cấp III) là điều chỉnh bằng sự can thiệp bởi lệnh điều độ để đưa tần số hệ thống điện vận hành ổn định theo quy định hiện hành và đảm bảo phân bổ kinh tế công suất phát các tổ máy phát. Bộ điều tốc của tổ máy phát điện của nhà máy điện có công suất lắp đặt trên 30 MW phải có khả năng làm việc với các giá trị hệ số tĩnh của đặc tính điều chỉnh nhỏ hơn hoặc bằng 5%. Các tổ máy phát điện tham gia điều tần phải có khả năng thay đổi ít nhất 4% công suất định mức của tổ máy trong vòng 10 giây và có thể duy trì mức thay đổi này tối thiểu trong 10 8 Luan van Báo cáo nghiên cứu khoa học phút.
Đồng thời, các tổ máy này phải có khả năng tăng hoặc giảm công suất tự động theo tần số một cách tự động. Tổ máy cung cấp dịch vụ dự phòng quay phải có khả năng tăng công suất trong vòng 25 giây và duy trì ở mức công suất đó tối thiểu 30 phút. Đồng thời các tổ máy này phải có khả năng tăng công suất theo tần số tự động hoặc bằng tay. Đối với trường hợp tần số thay đổi nhanh chóng và vượt ra ngoài phạm vi tự điều khiển của các tổ máy phát điện khi mà điều khiển bằng tay không đủ thời gian để điều chỉnh hệ thống thì phương án sa thải tự động được dùng để điều khiển tần số hệ thống điện trình bày ở Bảng 1.1: Phân bổ công suất sa thải sử dụng UFLS trên hệ thống điện Việt Nam Lượng cắt tính theo % phụ tải khu vực (thời gian cắt t = 0s) Tần số, Hz Miền Bắc, miền Miền Nam Trung 49,0 5 5 48,8 5 5 48,6 5 5 48,4 5 5 48,2 5 5 48,0 5 15 47,8 10 15 47,6 15 10 47,4 10 Tổng cộng 65 65 b.
Sa thải phụ tải dưới điện áp (UVLS) UVLS được thực hiện để bảo vệ hệ thống điện tránh sụp đổ điện áp. Mất ổn định điện áp thường xảy ra do máy phát điện hoặc đường dây buộc phải cắt, hoặc quá tải. Khi điều này xảy ra, nhu cầu công suất phản kháng trong đường dây truyền tải thay đổi nghiêm trọng và có thể gây ra sự cố mất điện nếu không phục hồi nhanh chóng. Kỹ thuật UVLS được áp dụng bởi các công ty điện lực để ngăn chặn sự mất ổn định điện áp và khôi phục điện áp đến giá trị định mức của nó [29], [30].
9 Luan van Báo cáo nghiên cứu khoa học c. Những hạn chế của các phương pháp sa thải phụ tải truyền thống Các phương pháp sa thải phụ tải truyền thống có ưu điểm là chi phí thấp, nguyên lý làm việc đơn giản, việc cắt tải gần như diễn ra tức thời khi tần số thấp nên được ứng dụng rất rộng rãi. Tuy nhiên, các phương pháp này thường bị hạn chế bởi không thể cung cấp phương pháp sa thải phụ tải tối ưu.