Tổng quan nghiên cứu
Ngày 22 tháng 11 năm 2016, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 31/2016/QH14 về việc dừng thực hiện chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Quyết định chiến lược này đã mở ra một bối cảnh phát triển hoàn toàn mới cho ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam, chuyển dịch trọng tâm từ chuẩn bị vận hành nhà máy điện hạt nhân sang đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và ứng dụng bức xạ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trước sự thay đổi mang tính bước ngoặt đó, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc toàn diện lực lượng lao động nhằm đáp ứng nhiệm vụ mới.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự mất cân đối giữa quy mô hiện có và nhu cầu thực tế về nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao. Tính đến cuối năm 2017, toàn Viện có 810 cán bộ, viên chức phân bổ tại 9 đơn vị trực thuộc. Tuy nhiên, để đáp ứng chiến lược vận hành Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân mới có quy mô 540 triệu USD và mạng lưới quan trắc môi trường phóng xạ quốc gia, Viện cần đạt quy mô trên 1.100 người vào năm 2025. Như vậy, khoảng cách thiếu hụt trên 300 nhân sự có trình độ từ đại học trở lên đặt ra bài toán lớn về tuyển dụng và đào tạo.
Mục tiêu của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhân lực khoa học công nghệ, phân tích thực trạng giai đoạn 2014-2017 tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi phát triển nguồn nhân lực đến năm 2025. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đào tạo từ 91,0% năm 2015 lên 95,2% năm 2017, đồng thời tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các chương trình phát triển tri thức hạt nhân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của Leonard Nadler và khung phân loại nhân lực khoa học và công nghệ (HRST) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1995) ban hành, kết hợp quan điểm của UNESCO. Theo đó, nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh vực hạt nhân được tiếp cận theo 2 tiêu chí cốt lõi: trình độ đào tạo chuẩn mực từ bậc cao đẳng, đại học trở lên và năng lực thực hành nghiên cứu thực tế tại các tổ chức nghiên cứu - triển khai (R&D).
Khung nghiên cứu tích hợp 4 khái niệm và mô hình chuyên ngành:
- Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử: Tập hợp đội ngũ nghiên cứu viên, kỹ sư, kỹ thuật viên có trình độ cao tham gia trực tiếp vào việc nghiên cứu, làm chủ công nghệ và vận hành các cơ sở bức xạ, lò phản ứng hạt nhân theo Luật Năng lượng nguyên tử số 18/2008/QH12.
- Phương pháp tiếp cận có hệ thống trong đào tạo (Systematic Approach to Training - SAT): Mô hình chuẩn hóa 5 giai đoạn do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) khuyến nghị, gồm: phân tích nhu cầu, thiết kế chương trình, phát triển học liệu, thực thi đào tạo và đánh giá kết quả.
- Quản lý tri thức hạt nhân (Nuclear Knowledge Management): Chiến lược lưu trữ, chuyển giao và kế thừa kinh nghiệm vận hành công nghệ hạt nhân qua nhiều thế hệ nhằm tránh đứt gãy tri thức chuyên môn.
- Môi trường đãi ngộ khoa học: Hệ thống kết hợp hài hòa giữa thù lao vật chất, điều kiện trang thiết bị thí nghiệm và sự tôn vinh học thuật đối với các công trình công bố quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và phương pháp thu thập thông tin chuyên gia trong giai đoạn 2014-2017:
- Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ các báo cáo thường niên giai đoạn 2014-2017 của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, báo cáo thống kê của Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học, Phòng Hành chính - Tổ chức, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 1558/QĐ-TTg, Quyết định 45/2014/QĐ-TTg và Nghị định 40/2014/NĐ-CP.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 810 cán bộ, viên chức và người lao động làm việc tại 9 đơn vị thành viên của Viện (5 đơn vị tại Hà Nội và 4 đơn vị tại Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với hồ sơ nhân sự, kết hợp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để tham vấn ý kiến sâu của 15 chuyên gia quản lý và nhà khoa học đầu ngành.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp chỉ số định lượng và kỹ thuật so sánh chuỗi thời gian. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đánh giá chính xác mức độ hoàn thành chỉ tiêu tuyển dụng (trung bình 60-69 chỉ tiêu mỗi năm) và sự dịch chuyển nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn giai đoạn 2015-2017, tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho việc thiết kế chính sách nhân sự.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2014-2017 cho thấy 4 phát hiện quan trọng:
- Quy mô nhân sự tăng trưởng ổn định nhưng tỷ lệ sau đại học còn mỏng: Tổng số lao động của Viện tăng 21,6%, từ 666 người năm 2015 lên 672 người năm 2016 và đạt 810 người vào năm 2017. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân sự có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 8,5% tổng biên chế, đặt ra thách thức lớn khi chỉ tiêu tuyển dụng tiến sĩ giai đoạn 2015-2020 dao động từ 3 đến 11 cán bộ mỗi năm.
- Hiệu quả đào tạo ngắn hạn được cải thiện vượt bậc: Mức độ đáp ứng nhu cầu đào tạo tăng đều từ 91,0% năm 2015 (đào tạo 140 trên tổng số 154 người có nhu cầu) lên 93,2% năm 2016 (đáp ứng 151/162 người) và đạt 95,2% năm 2017 (đáp ứng 160/168 người). Nhu cầu đào tạo sau đại học tăng vọt 240%, từ 20 người năm 2015 lên 68 người năm 2017; nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn sâu tăng từ 198 lên 354 lượt cán bộ.
- Thành tích nghiên cứu quốc tế nổi bật nhưng thu nhập bổ sung từ đề tài còn hạn chế: Trong năm 2016, Viện công bố 190 công trình khoa học (gồm 52 bài báo quốc tế với 30 bài thuộc danh mục ISI/Web of Science có Impact Factor, 28 báo cáo quốc tế, 42 bài báo trong nước và 68 báo cáo hội nghị). Dù năng suất học thuật cao, tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có nguồn thu nhập bổ sung từ việc chủ trì đề tài khoa học các cấp vẫn ở mức dưới 10%.
- Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu xuống cấp không đồng đều: Trong số 16 phòng thí nghiệm và 5 phòng máy tính phục vụ đào tạo, có tới 7 phòng thí nghiệm được đưa vào khai thác từ cuối những năm 1970 và 1980. Trong khi 3 trung tâm thành lập sau năm 2008 có hạ tầng tương đối tốt thì trụ sở chính và 6 đơn vị thành lập trước năm 2008 đã xuống cấp nghiêm trọng.
Thảo luận kết quả
Thực trạng phân tích cho thấy việc Quốc hội dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận không làm giảm vai trò của ngành hạt nhân mà đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu nhân lực sang các lĩnh vực ứng dụng thực tiễn như y học hạt nhân, nông nghiệp đột biến giống và giám sát an toàn bức xạ. Dữ liệu thực nghiệm có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ hình cột thể hiện mức tăng trưởng nhân sự qua các năm và bảng đối sánh cơ cấu trình độ của 810 cán bộ theo từng đơn vị thành viên.
Nguyên nhân của những tồn tại xuất phát từ cơ chế tài chính công lập còn ràng buộc. Dù Viện đã tích cực áp dụng Quyết định số 45/2014/QĐ-TTg với mức phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp từ 20% đến 70% lương ngạch bậc, Viện mới chỉ thực hiện xét tuyển đặc cách được 3 tiến sĩ đào tạo tại nước ngoài và xét thăng hạng chức danh cho 6 cán bộ trong giai đoạn 2015-2017 theo Nghị định 40/2014/NĐ-CP.
So sánh với các nước tiên tiến như Liên bang Nga (với hơn 20 trường đại học đào tạo chuyên ngành hạt nhân) hay Nhật Bản và Pháp, chính sách của Việt Nam còn thiếu các gói đãi ngộ vượt trội về nhà ở và kinh phí nghiên cứu độc lập. Nếu không sớm cải cách chế độ đãi ngộ, Viện sẽ gặp nhiều khó khăn trước sự cạnh tranh thu hút nhân tài từ các tập đoàn tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 giải pháp đột phá được đề xuất nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành năng lượng nguyên tử đến năm 2025:
- Tối ưu hóa chính sách tuyển dụng và thu hút nhân tài chuyên sâu: Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học phối hợp Phòng Hành chính - Tổ chức mở rộng cơ chế xét tuyển đặc cách không qua thi tuyển theo Nghị định 40/2014/NĐ-CP. Mục tiêu đặt ra là tuyển dụng tối thiểu 10 tiến sĩ xuất sắc tốt nghiệp tại các quốc gia có nền hạt nhân phát triển (Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc) mỗi năm, hướng tới bổ sung đủ 300 nhân sự trình độ cao cho Viện trước năm 2025.
- Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng phòng thí nghiệm và triển khai dự án trọng điểm: Lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ giải ngân hiệu quả dự án Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân trị giá 540 triệu USD. Hoàn thành nâng cấp đồng bộ 16 phòng thí nghiệm hiện hữu và đưa cơ sở chiếu xạ Đà Nẵng vào vận hành trước quý IV năm 2023.
- Chuẩn hóa quy trình đào tạo SAT và mở rộng mạng lưới liên kết học thuật: Trung tâm Đào tạo hạt nhân chịu trách nhiệm chuẩn hóa 100% chương trình bồi dưỡng theo khung 5 bước SAT của IAEA. Mở rộng liên kết đào tạo sau đại học với 5 trường đại học lớn trong nước (Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội và TP.HCM, Đại học Điện lực, Đại học Đà Lạt) để đào tạo 35 thạc sĩ, tiến sĩ và trên 200 kỹ sư chuyên ngành mỗi năm giai đoạn 2020-2025.
- Đổi mới cơ chế tài chính và gia tăng phúc lợi đãi ngộ nhà khoa học: Ban Lãnh đạo Viện triển khai quỹ tài trợ nghiên cứu hạt nhân nội bộ, phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ có đề tài nghiên cứu từ dưới 10% lên mức 25% vào năm 2024. Duy trì thực hiện đầy đủ mức phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp 20% đến 70% theo Quyết định 45/2014/QĐ-TTg, kết hợp thưởng kinh phí trực tiếp cho các công trình công bố trên tạp chí quốc tế ISI đạt chuẩn cao.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo): Cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát Đề án 1558/QĐ-TTg, điều chỉnh chính sách phụ cấp nghề nghiệp và xây dựng chiến lược phát triển nhân lực công nghệ cao trong bối cảnh tái cơ cấu năng lượng quốc gia.
- Ban Giám đốc và cán bộ nhân sự tại các viện nghiên cứu chuyên ngành: Cung cấp mô hình quy trình đào tạo 5 bước chuẩn SAT của IAEA, kinh nghiệm triển khai xét tuyển đặc cách tiến sĩ và giải pháp giữ chân nhân sự khoa học thông qua môi trường nghiên cứu nhóm.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật với cấu trúc phương pháp luận rõ ràng, số liệu thứ cấp minh bạch về 810 nhân sự hạt nhân và kinh nghiệm công bố 190 công trình khoa học trong nước, quốc tế.
- Các doanh nghiệp, bệnh viện và cơ sở ứng dụng công nghệ bức xạ: Giúp nắm bắt tiềm năng chuyển giao kỹ thuật từ các giống cây trồng đột biến chiếu xạ (chiếm hơn 50% diện tích đậu tương toàn quốc) và kỹ thuật chẩn đoán y học hạt nhân tại 23 cơ sở xạ trị trên cả nước để xây dựng kế hoạch hợp tác R&D.
Câu hỏi thường gặp
-
Bối cảnh mới của ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam được xác định bởi sự kiện nào?
Bối cảnh mới bắt đầu từ khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 31/2016/QH14 ngày 22/11/2016 về việc dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Ngành năng lượng nguyên tử chuyển trọng tâm sang nghiên cứu ứng dụng bức xạ trong nông nghiệp, y tế, công nghiệp và quan trắc ứng phó sự cố phóng xạ từ 7 tổ máy điện hạt nhân lân cận biên giới.
-
Quy trình đào tạo SAT áp dụng tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam gồm những bước nào?
Quy trình SAT do IAEA ban hành gồm 5 bước khép kín: Phân tích nhu cầu, Thiết kế chương trình, Phát triển tài liệu, Thực hiện khóa học và Đánh giá kết quả. Nhờ quy trình này, tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đào tạo của Viện đã tăng ấn tượng từ 91,0% năm 2015 lên 95,2% năm 2017 cho hơn 350 lượt cán bộ mỗi năm.
-
Thực trạng quy mô nhân lực của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam hiện nay như thế nào?
Tính đến cuối năm 2017, Viện có 810 cán bộ làm việc tại 9 đơn vị thành viên, tăng 21,6% so với quy mô 666 người năm 2015. Nhằm phục vụ các dự án nghiên cứu hiện đại, Viện đặt mục tiêu thu hút thêm trên 300 nhân sự trình độ đại học trở lên để đạt quy mô hơn 1.100 người vào năm 2025.
-
Cán bộ ngành hạt nhân tại Viện đang được hưởng những chính sách ưu đãi nghề nghiệp nào?
Theo Quyết định số 45/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp từ 20% đến 70% tính trên mức lương ngạch bậc. Ngoài ra, cán bộ có bài báo quốc tế thuộc danh mục ISI được xét khen thưởng định kỳ theo 4 hạng giải thưởng của Viện.
-
Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân phi năng lượng tại Việt Nam đã đạt những kết quả nổi bật nào?
Ngành hạt nhân đã tạo ra hơn 50 giống cây trồng đột biến phóng xạ, tiêu biểu là các giống đậu tương đột biến chiếm trên 50% diện tích gieo trồng toàn quốc. Trong y tế, cả nước đã phát triển 23 cơ sở xạ trị và 4 bệnh viện chuyên khoa ung bướu phục vụ chẩn đoán, điều trị hiệu quả cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi năm.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý và phát triển nhân lực khoa học công nghệ hạt nhân theo chuẩn quốc tế SAT của IAEA.
- Đánh giá toàn diện thực trạng nhân sự của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam giai đoạn 2014-2017 với quy mô 810 cán bộ và 190 công bố khoa học tiêu biểu trong năm 2016.
- Làm rõ những nút thắt căn bản về cơ sở vật chất cũ kỹ tại 7 trên 16 phòng thí nghiệm đào tạo và rào cản tài chính khi dưới 10% cán bộ có đề tài khoa học.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về tuyển dụng đặc cách, hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu 540 triệu USD và đổi mới cơ chế thù lao.
- Xác định rõ lộ trình bổ sung hơn 300 cán bộ trình độ cao giai đoạn 2020-2025 nhằm vận hành thành công Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân mới.
Bước đi tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý cần khẩn trương cụ thể hóa các giải pháp tuyển dụng đặc cách và phân bổ ngân sách nâng cấp phòng thí nghiệm trong giai đoạn 2020-2025. Các nhà quản lý khoa học, cơ sở đào tạo và chuyên gia trong ngành cần tích cực tham khảo nội dung luận văn để chung tay xây dựng nguồn nhân lực hạt nhân Việt Nam chất lượng cao, an toàn và bền vững.