Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm nhân lực khoa học công nghệ Nhân lực KH&CN là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm và cách nhìn nhận riêng của mỗi quốc gia. Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng điển hình hai cách tiếp cận phổ biến về nhân lực KH&CN đó là cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(OECD) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO). Theo cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây (OECD, 1995): - Tốt nghiệp cao đẳng trở lên về một lĩnh vực KH&CN; - Hoặc chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tối thiểu là cao đẳng trở lên.
Như vậy, kể cả những người có bằng cấp nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN cũng được coi là nhân lực KH&CN. Theo OECD, những người đáp ứng cả 2 yêu cầu trên đây, tức là vừa có bằng cấp trong lĩnh vực KH&CN vừa làm một nghề về KH&CN được coi là nhóm nhân lực then chốt trong lĩnh vực KH&CN (key group of HRST). Theo cách tiếp cận của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), “Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của mình, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ” Theo quan niệm của một số quốc gia, nhân lực phụ trợ là yếu tố quan trọng góp phần để các hoạt động KH&CN được tiến hành thuận lợi. Chính vì vậy, Chính phủ ở các quốc gia này rất quan tâm đến đội ngũ nhân lực phụ trợ để họ có điều kiện thuận lợi thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho KH&CN.
Nhìn vào 2 cách tiếp cận trên đây, khái niệm nhân lực KH&CN giữa OECD và UNESCO có khác biệt, thể hiện ở chỗ: 7 - Theo UNESCO, nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ, trong khi đó OECD không tính bộ phậnnàyvà nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ có bằng cấp. - Theo OECD nhân lực KH&CN không nhất thiết phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN, còn theo UNESCO nhân lực KH&CN phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN. Trong khi đó, đề cập tới "nguồn" hàm ý khả năng huy động trong tương lai, nếu người sử dụng có nhu cầu. Từ những quan điểm về nhân lực KH&CN trên ta có thể khái quát Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN mà chúng ta có thể khai thác và sử dụng trong hoạt động KH&CN.
Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử 1. Khái niệm Theo cách hiểu đề tài đề cập ở 1.1, nguồn nhân lực KH&CN NLNT sẽ được hiểu là mọi nguồn lực về nhân lực KH&CN có trình độ và kỹ năng NLNT phù hợp mà chúng ta có thể khai thác và sử dụng. Theo Luật năng lượng nguyên tửtại kỳ họp thứ 3, số 18/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội khóa XII quy định hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, khai thác, quản lý và tháo dỡ cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho rằng, nhân lực KH&CN trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là nhân lực KH&CN trình độ cao tham gia trực tiếp vào phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
8 Như vậy, nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả nhân lực KH&CN có trình độ được xác định thông qua bằng cấp và nhân lực KH&CN có kỹ năng, đã, đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực NLNT. Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT và yêu cầu phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vai trò của nhân lực KH&CNlĩnh vực NLNT càng thể hiện rõ nét hơn. Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính.
Đây là quá trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ, phương pháp tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Vai trò của nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực năng lượng nguyên tử Việt Nam Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi năng lượng hạt nhân hay năng lượng nguyên tử được phát triển và sử dụng trên toàn thế giới, năng lượng nguyên tử đã trở thành một trong những nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho ngành điện lực tại các nước công nghiệp phát triển. Việc ứng dụng công nghệ bức xạ một cách rộng rãi trong các lĩnh vực như: công nghiệp, y học, nông nghiệp,.
cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn. Tại Việt Nam những nghiên cứu, ứng dụng NLNT đã có nhiều đóng góp phục vụ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực y tế và nông nghiệp. Ở lĩnh vực nông nghiệp, có hơn 50 giống cây trồng được tạo ra bằng phương pháp chiếu xạ gây đột biến bao gồm giống lúa, đậu tương, bưởi. Riêng đậu tương có tới trên 50% diện tích được trồng là các giống được tạo ra bằng phương pháp chiếu xạ đem lại hiệu quả năng xuất cao góp phần tăng tổng thu nhập quốc dân của toàn quốc.
Trong lĩnh vực y tế, năng lượng nguyên tử với các thành tựu về hình ảnh và 9 kỹ thuật xạ trị trong điều trị ung thư, các bệnh tim mạch, hệ tiêu hóa, xương khớp, hô hấp…. đã và đang được thực hiện có kết quả cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi năm. Ngoài ra, ứng dụng NLNT trong công nghiệp đã chế tạo thử nghiệm thành công các thiết bị đo trong ngành công nghiệp than, thiết bị phân tích nhanh, máy chụp X quang công nghiệp. Trong quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020, Việt Nam tiếp tục thực hiện 3 mục tiêu lớn là ứng dụng dụng rộng rãi, an toàn, hiệu quả bức xạ trong cách ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội, đảm bảo tỉ lệ dân số được điều trị, chuẩn đoán bằng y học hạt nhân, xạ trị, X quang theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, nâng cao đáng kể tỉ lệ giống cây trồng đột biến phóng xạ trong cơ cấu cây trồng quốc gia; chế tạo được một số thiết bị bức xạ.
Để đạt được những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế xã hội những năm qua không thể không kể đến những đóng góp lớn của cả đội ngũ nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT. Có thể khẳng định KH&CN trong lĩnh vực NLNT nước ta đã thực sự góp phần đáng kể vào đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN 1. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN nói chung Trên thế giới hiện nay có khá nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực, Nadler và đồng nghiệp [18, tr.
82] cho rằng phát triển nguồn nhân lực và giáo dục, đào tạo là những thuật ngữ có cùng nội hàm. Tác giả này định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. Trong khi đó, UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước. Theo tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Liên hiệp Quốc thì nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử 10 dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Như vậy, tựu trung lại, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng dùng để chỉ sức người gồm cả khả năng và phẩm chất tham gia vào lao động sản xuất. Nói đến nguồn nhân lực tức là nói tới những gì cấu thành khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người và nguồn nhân lực thì chất lượng là điều quan trọng chứ không phải số lượng. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 (theo Quyết định số 481/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đã đưa ra quan điểm: Phát triển KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững.