Chương 1: Giới thiệu tong quan van đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước. Chương 3: Phân tích năng lực cạnh tranh ngành muối Bà Rịa - Vũng Tàu Chương 4: Kết luận, khuyến nghị chính sách. TONG QUAN CO SO LY THUYÉẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lý thuyết về NLCT và cụm ngành Theo mô hình đánh giá NLCT của Porter (1990, 1998, 2008) được chỉnh sửa bởi Vũ Thành Tự Anh (2011) thi NLCT là mối quan tâm thường trực của cả chính quyền trung ương và địa phương.
Điều quan trọng và có ý nghĩa duy nhất về NLCT là năng suất. Năng suất ở đây được hiểu là năng suất sử dụng các nguồn lực (bao gồm vốn, lao động, đất đai và các tài nguyên khác) đóng vai trò trung tâm, một mặt vì nó là thước đo chính xác nhất và có ý nghĩa duy nhất cho NLCT; mặt khác nó là nhân tố quyết định sự thịnh vượng của các địa phương. Theo Vũ Thành Tự Anh (2011) những nhân tố quyết định năng suất và tốc độ tăng trưởng năng suất gồm ba nhóm (Hình 2.1): NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CÁP ĐỘ DOANH NGHIỆP Trinh độ phát triển cụm Hoạt động và chiến lược ngành của DN Môi trường kinh doanh | NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CÁP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG dục. cơ cầu Hạ tầng văn hóa.
giáo | Hạ tầng kỹ thuật (GTVT. | Chính sách tài khóa. đầu CAC YEU TO SAN CO CUA DIA PHUONG Tai nguyén ty nhién Vi tri dia ly | Quy mô của địa phương Hình 2. Những yếu tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của địa phương Nguôn: Vũ Thành Tự Anh (2012) () Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương bao gồm: tài nguyên thiên nhiên; vị trí địa lý; hay quy mô địa phương.
Những nhân tố này không chỉ là số lượng mà còn bao gồm sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng, chỉ phí đất đai, điều kiện khí hậu, diện tích và địa thế vùng, nguồn khoáng sản, nguồn nước, các nguồn lợi thủy sản hay ngư trường, V. (ï) Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương bao gồm các nhân tố cấu thành nên môi trường hoạt động của doanh nghiệp, chia thành hai nhóm chính: chất lượng của ha tang xã hội và các thé chế chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; các thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài khóa, tín dụng và cơ cấu kinh tế. (ii) Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp: đây là nhân tố tác động trực tiếp tới năng suất của doanh nghiệp, bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp. Theo Porter (2008), NUCT của ngành thường được đánh giá qua bốn đặc tính bao gồm: () Các điều kiện về nhân tố đầu vào; (ii) Các điều kiện cầu; (iii) Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan va (iv) Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa.
Bốn đặc tính này thông qua bốn góc của một hình thoi được gọi là Mô hình Kim cương Porter. Cần lưu ý rằng một số nhân tố như nhân lực, kiến trúc, vốn có thé di chuyển giữa các địa phương, cho nên việc có sẵn các nhân tố này ở mỗi địa phương không phải là một lợi thế cố hữu, bất di bất dịch. Hơn nữa, nguồn dự trữ các nhân tố đầu vào mà một địa phương có được ở một thời điểm cụ thể không quan trọng bằng tốc độ và tính hiệu quả mà địa phương tạo ra cũng như việc nâng cấp và sử dụng các nhân tố này trong những ngành cụ thé. Vi vay, ngoai bốn đặc tính quan trọng trên cần phải nhắn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, trong việc định hình nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh nhằm hướng đến việc cải thiện năng suất.
Chính sách kinh tế thị trường (hàng hóa, tài chính), trợ cấp, giáo dục định hình nhu cầu, thiết lập các tiêu chuẩn Các quy định và động lực khuyến khích đầu tư và năng suất độ mở và mức độ của cạnh tranh trong nước Vai trò chính ————> quyên Boi canh cho chién luge va IS canh tranh vue do ai ức độ đòi Tiếp cận — `. Í hỏi và khắc các yếu Điều kiện yết NY Cie yéutd khe của tố đầu Sak uài điều kiện cầu — | thách nà. tô đầu vào ách hàng vao chat SN và nhu câu lượng nội địa “ae Nganh CN phy trợ và liên quan Sự có mặt của các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hồ trợ Hình 2. Mô hình kim cương của M.
Porter Nguôn: Vũ Thành Tự Anh (2012, trang 6) Theo Porter (2008) một cụm ngành là một nhóm các doanh nghiệp dựa trên quan hệ tương tác lẫn nhau với khách hàng và nhà cung cấp. Các hoạt động cụm ngành sẽ thúc đây phát triển đổi mới, hoàn thiện sản phẩm và quá trình để định vị sự khác biệt và tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường. Thuật ngữ “cụm ngành” được sử dụng cụ thể bằng cách tập trung các hoạt động trong ngành và trong khu vực địa lý cụ thể, thường là đô thị hoặc khu vực để tập trung các nguồn lực và giành lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Theo Vũ Thành Tự Anh (2011) các lợi thế cạnh tranh do cụm ngành tạo ra bao gồm: * Thúc đây hiệu quả: Tăng khả năng tiếp cận với thông tin, dịch vụ và nguyên liệu chuyên biệt; Tăng tốc độ và giảm chỉ phí điều phối cũng như giao dịch giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành; Tăng khả năng truyền bá các thông lệ và kinh nghiệm kinh doanh hiệu quả; Tăng cạnh tranh trong đó tập trung vào việc cải thiện chất lượng trên cơ sở so sánh với các đối thủ trong cụm ngành.
* Thúc đây đổi mới: Tăng khả năng nhận diện cơ hội đổi mới công nghệ với sự có mặt của nhiều luồng thông tin; Giảm chỉ phí và rủi ro thử nghiệm công nghệ mới trước sự sẵn có của nguồn lực tài chính và kỹ năng, dịch vụ hỗ trợ và các doanh nghiệp khâu trước — khâu sau. * Thúc đây thương mại hóa: Mở rộng cơ hội phát triển sản phẩm mới và/hoặc thành lập doanh nghiệp mới; Giảm chỉ phí thương mại hóa khi có sẵn nguồn lực về tài chính và kỹ năng.2 Các nghiên cứu trước về ngành muối Phạm Văn Dực (2015) với đề tài nghiên cứu “Nghề làm muối của người Việt ở Long Sơn, Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa — Vũng Tàu” đã nghiên cứu quy trình làm muối truyền thống tại Bà Rịa - Vũng Tàu để cho ra những hạt muối ngon cung cấp cho các nhà thùng Phú Quốc (Kiên Giang) sản xuất nước mắm; đồng thời khuyến nghị một số chính sách đề duy trì và phát triên nghề muối truyền thống của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua nghiên cứu của tác giả, có thể thấy ngành muối của tinh có đầu ra ồn định, vì vậy UBND tỉnh cần có những chính sách hỗ trợ cho ngành muối của tỉnh duy trì và phát triển, tạo công ăn, việc làm lâu dài cho ba con diém dân, bảo tồn ngành nghề truyền thống lâu đời của tỉnh. Nguyễn Thị Hoài Tiên và Mai Văn Nam (2017) với đề tài “Giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tỉnh Bên Tre đến năm 2020” đề xuất các giải pháp phát triển các cơ sở sản xuất và kinh doanh muối tỉnh Bến Tre.
Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 159 quan sát, là các tác nhân tham gia hoạt động trong kênh phân phối muối. Các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích kênh thị trường, các chỉ số tài chính được ứng dụng đề phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất muỗi của diêm dân. Kết quả phân tích cho thấy, người bán lẻ là tác nhân có lợi nhuận biên cao nhất kế đến là bán sỉ không chuyên về muối, cơ sở chế biến, bán sỉ chuyên muối và thương lái, trong khi người sản xuất muối bị lỗ do chi phi sản xuất cao. Cuối cùng, đề tài đã trình bày một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt -10- động sản xuất kinh doanh muối tại tỉnh Bến Tre như: tổ chức quy hoạch vùng sản xuất muối; áp dụng phương pháp sản xuất mới; liên kết sản xuất - tiêu thụ, thành lập hợp tác xã, hỗ trợ tiếp cận vốn vay.
Qua nghiên cứu của tác giả, dé tránh tình trạng diêm dân bị thương lái ép giá, UBND tỉnh cần có chính sách hỗ trợ, chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh hỗ trợ các hợp tác xã ngành muối của tỉnh xây dựng các kho chứa, ký cam kết thu mua với các nhà thùng chế biến nước mắm Phú Quốc để bà con điêm dân an tâm sản xuất, đồng thời hỗ trợ vốn vay để bà con diêm dân cải tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận trong sản xuất. Nguyễn Đình Bình và cộng sự (2006) với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất muối sạch trong sản xuất muối tại Bình Định” đã nghiên cứu ứng dụng quy trình công nghệ sản xuất muối sạch phơi cát kết hợp với quy trình công nghệ sản xuất muối phơi nước. Từ thực nghiệm đã tìm ra các quy luật cô đặc tách muối, độ bền, tính hấp nhiệt và chịu mặn của vật liệu, các giải pháp lắng, lọc làm sạch nước v. để tạo ra được một qui trình công nghệ sản xuất muối sạch đạt tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3974-84.
Quy trình công nghệ có thê ứng dụng rộng rãi để sản xuất muối sạch tại các đồng muối của Bình Định cũng như các tỉnh phía Nam đang sử dụng công nghệ sản xuất muối phơi nước truyền thống. Công nghệ này thay thế được công nghệ tinh chế muối, làm sạch muối bằng các phương pháp công nghiệp khác như: tái kết tỉnh bằng phương pháp chân không hay nồi hơi, tỉnh chế làm sạch muối bằng phương pháp nghiền rửa. Qua nghiên cứu của tác giả, để nâng cao chất lượng hạt muối của tỉnh, UBND tỉnh cần chỉ đạo các ngành chức năng hỗ trợ, trình diễn quy trình sản xuất muối sạch để bà con diêm dân học tập, áp dụng vì hiện nay hạt muối của tỉnh sản xuất theo phương pháp phơi nước truyền thống có rất nhiều tạp chất, hạt muối không trắng như muối trải bạt.