MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm qua hòa chung với xu thế đổi mới và phát triển của nền kinh tế, với sự cố gắng to lớn của Đảng , Nhà nước, chính quyền các địa phương và nhân dân trong cả nước, công tác xây dựng cơ bản có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng, biện pháp và kỹ thuật thi công, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ kỹ thuật xây dựng. Cơ sở phục vụ cho nông nghiệp như: Công trình thủy lợi, hệ thống cấp thoát nước, các trung tâm phát triển chăn nuôi trồng trọt. Các công trình lớn phục vụ phát triển công nghiệp như dầu khí, khai thác khoáng sản.
Bên cạnh những kết quả cơ bản và to lớn đó, một vấn đề được xã hội hết sức quan tâm đó là chất lượng xây dựng, vì chất lượng xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, quyết định đến bộ mặt đô thị, nông thôn. Công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại đến đời sống và xã hội của mọi người. Trên thực tế hiện nay, trong phạm vi cả nước có không ít những công trình do không đảm bảo chất lượng dẫn đến nguy hại đến đời sống xã hội của người dân. Trong những năm vừa qua, trong phạm vi cả nước, có không ít những công trình do không đảm bảo chất lượng đã gây ra tình trạng lún, nứt ví dụ như công trình nâng cấp, cải tạo QL8 đoạn Uông Bí – Hạ Long, công trình sửa chữa mặt cầu Thăng Long.Những điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp, đến đời sống xã hội, khiến cho dư luận thêm lo lắng và bức xúc.
Điều đó cho thấy chất lượng công trình, sản phẩm xây dựng cần được quan tâm hơn nữa, đẩy mạnh trong mọi khâu của quá trình đầu tư xây dựng công trình. Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Ninh Bình là cơ quan chuyên môn trực thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình có trách nhiệm tham mưu giúp Giám đốc sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực quản lý đê điều và phòng chống lụt bão trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Thực hiện chức năng quản lý đầu tư và dự án: Xây dựng tu bổ, sửa chữa kè, cống thuộc các nguồn vốn khi được cấp có thẩm quyền quyết định. Như vậy với chức năng nhiệm vụ khá đa dạng từ công tác chuyên môn về quản lý nhà nước đến các hoạt động quản lý các dự án duy tu, tu bổ đê 1 điều thường xuyên và các dự án xử lý đột xuất các công trình thủy lợi trong khi lực lượng cán bộ kỹ thuật khá mỏng (18 người).
Do đó để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ về quản lý nhà nước cũng như quản lý dự án thì chi cục cần có những giải pháp về quản lý chất lượng công trình nhằm nâng cao hiệu quả công việc và đảm bảo chất lượng công trình. Vì vậy em chọn đề tài: “Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công công trình đê điều tại chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Ninh Bình". MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công công trình đê điều tại chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Ninh Bình. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI a) Ý nghĩa khoa học: Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão là cơ quan chuyên môn trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình có trách nhiệm tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện chức năng quản lý đầu tư và dự án: Xây dựng tu bổ, sửa chữa kè, cống thuộc các nguồn vốn khi được cấp có thẩm quyền quyết định. Để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ về quản lý nhà nước cũng như quản lý các dự án cần có những giải pháp trong công tác quản lý. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công công trình tại chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Ninh Bình. b) Ý nghĩa thực tế: Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình từ đó đưa ra được các giải pháp quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công nhằm nâng cao chất lượng công trình và nâng cao hiệu quả công tác quản lý các dự án mà chi cục được phân công.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2 - Đối tượng nghiên cứu là quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn ngân sách nhà nước dưới góc độ của cơ quan quản lý. - Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn vào dự án nâng cấp đê biển Bình Minh II. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: - Phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh, các phương pháp thống kê kết hợp với khảo sát thực tế. - Vận dụng đườg lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng theo văn bản quy phạm ban hành.
- Nghiên cứu số liệu các tài liệu thống kê, báo cáo các dự án đầu tư, hồ sơ, công tác quản lý, dự án đầu tư xây dựng hiện thời. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công tại chi cục Đê điều; Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình đê điều. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 1.1 Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình thủy lợi 1.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.1 Quan niệm về chất lượng Quan niệm về chất lượng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau: Từ bản thân sản phẩm: Chất lượng là tập hợp những tính chất của bản thân sản phẩm để chế định tính thích hợp của nó nhằm thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với công dụng của nó. Từ phía nhà sản xuất: Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu tiêu chuẩn hay các quy cách đã được xác định trước.
Từ thị trường: Về mặt khách hàng: Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng. Về mặt giá trị: Chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Về mặt cạnh tranh: Chất lượng có nghĩa là cung cấp những thuộc tính mà mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt sản phẩm đó với sản phẩm khác cùng loại trên thị trường. Hay: Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn.2 Các thuộc tính của chất lượng: Chất lượng bao gồm 8 thuộc tính: 4 Thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh công dụng chức năng của sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
Thuộc tính này xác định chức năng, tác dụng chủ yếu và nó được quy định bởi các chỉ tiêu: Kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo, đặc tính cơ lý hóa. Thuộc tính tuổi thọ: Là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm có giữ được khả năng làm việc bình thường hay không trong một điều kiện thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành, bảo dưỡng theo quy định thiết kế. Tuổi thọ của sản phẩm là cơ sở quan trọng giúp cho khách hàng lựa chọn mua hàng, tăng uy tín của sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Độ tin cậy: Đây được coi là một yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất lượng của sản phẩm hàng hóa dịch vụ.
Là cơ sở cho các doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển sản phẩm của mình. Độ an toàn: Những chỉ tiêu an toàn trong khai thác vận hành sản phẩm hàng hóa là những chỉ tiêu cực kỳ quan trọng, đặc biệt là những chỉ tiêu an toàn tới sức khỏe của khách hàng là yếu tố bắt buộc phải có trong mỗi sản phẩm với điều kiện tiêu dùng hiện nay. Mức độ gây ô nhiễm: Được coi là một yêu cầu bắt buộc mà các nhà sản xuất phải tuân thủ khi đưa sản phẩm ra thị trường. Tính tiện dụng: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, dễ vận chuyển, bảo quản và sử dụng, đồng thời có khả năng thay thế những bộ phận bị hỏng hóc.
Tính kinh tế: Đây là yếu tố quan trọng đối với những sản phẩm mà khi sử dụng có tiêu hao nhiên liệu và năng lượng. Tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng ngày nay đã trở thành một trong những yếu tố phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Tính thẩm mỹ: Đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức, kiểu dáng. Hay nói cách khác những sản phẩm ngày nay phải đảm bảo sự hoàn thiện về kích thước, kiểu dáng, tính cân đối.
5 Tính vô hình: Ngoài những thuộc tính hữu hình ra, thì chất lượng còn có những thuộc tính vô hình khác và những thuộc tính này lại có ý nghĩa quan trọng với khách hàng khi đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Đây là căn cứ tạo ra sự khác biệt, thể hiện tính chuyên nghiệp.3 Các yêu cầu và đặc điểm của chất lượng: Các yêu cầu: Chất lượng phải chính là kết quả của sự phối hợp thống nhất giữa lao động với các yếu tố kỹ thuật, kinh tế và các yếu tố văn hóa xã hội ( bởi chất lượng là sự kết hợp nhuần nhuyễn của bốn yếu tố ). Chất lượng phải phản ánh được khả năng đáp ứng được các yêu cầu về chức năng kỹ thuật, phải phản ánh giá trị sử dụng mà sản phẩm có thể đạt được. Các thuộc tính chất lượng phải là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều bộ phận hợp thành.
Chất lượng không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật của sản phẩm mà còn phản ánh trình độ, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, mỗi khu vực trong từng thời kỳ. Chất lượng được hình thành trong tất cả mọi hoạt động, mọi quá trình. Vì vậy phải xem xét nó một cách chặt chẽ giữa các quá trình trong và sau sản xuất. Giữa các yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp, bên trong và bên ngoài.
Đặc điểm của chất lượng: Chất lượng là một phạm trù kinh tế kỹ thuật và xã hội.