Chương 1 TÁC PHẨM VĂN HỌC – SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ THẨM MỸ 1. Tác phẩm văn học – nơi hiện diện các đối tượng thẩm mỹ tiêu biểu Đối tượng thẩm mỹ là khái niệm thể hiện nhận thức khái quát của con người về những hiện tượng thẩm mỹ trong tự nhiên và trong xã hội, ở con người và trong nghệ thuật. Đối tượng thẩm mỹ hiện diện trong các tác phẩm văn học là thiên nhiên và con người; cái cao cả và cái tầm thường, cái bi và cái hài… Tất cả đối tượng thẩm mỹ này đều được các tác giả khai thác và mang đến những giá trị riêng biệt cho mỗi tác phẩm. Thiên nhiên và con người Thiên nhiên là một đối tượng cực kì quan trọng trong văn học.
Thiên nhiên và con người có mối quan hệ không thể tách rời, vì thế, thiên nhiên trở thành đối tượng thẩm mỹ hiện diện trong hầu hết các tác phẩm văn học ở mọi giai đoạn, mọi thời kì. Trong tác phẩm ở các giai đoạn văn học khác nhau, chúng không chỉ thấy vẻ đẹp của cảnh vật mà còn thấy một tấm lòng tha thiết với cảnh vật. Đó là tình yêu say đắm với thiên nhiên vô tận, với vẻ đẹp tráng mỹ, hùng vĩ của núi cao vực sâu, cũng có thể là vẻ giản dị, gần gũi của nhành hoa, ngọn cỏ. Mỗi một sáng tác là sự đồng cảm của tác giả với cảnh vật thiên nhiên, một tấm lòng xót xa, thương cảm khi thấy cảnh đẹp xưa nay đã lụi tàn của một thời: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư/ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” (Độc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du).
Trong tác phẩm văn học, thiên nhiên không chỉ là người bạn tri kỉ, mà còn là gia đình thương mến, vì thế tác giả luôn muốn nâng niu vẻ đẹp giao hòa giản dị của thiên nhiên bình dị, xúc động trước những sự việc rất tầm thường của vạn vật: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” (Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến)… Thiên nhiên không chỉ là người bạn tri âm, tri kỉ, là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ văn mà nó còn là nơi cứu rỗi tâm hồn. Vì thế, các tác giả thường kêu gọi 9 về với thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên để được tự do, tự tại trong bản chất tự nhiên thuần phác. Bằng cách trở về với thiên nhiên, con người tìm lại sự bình an, tĩnh tại, tự do. Thiên nhiên trở thành điểm tựa tinh thần trong những lúc khó khăn, thiên nhiên nuôi dưỡng cái phần thiên tính chất phác của con người khỏi những phồn tạp, tị hiềm, ganh ghét, trói buộc, những khổ đau của cuộc đời.
Hầu hết cách ứng xử của thi nhân là sống gần gũi tự nhiên. Khi con người xã hội không như họ mong muốn, họ thường đi ở ẩn, một hình thức xa lánh cuộc đời đầy nhiễu nhương, trở về với thiên nhiên để quên nỗi buồn thế sự. Họ có khuynh hướng vui với cây cỏ, chối từ con người lí trí, rũ bỏ áo khoác xã hội để hòa mình vào thiên nhiên, xa lánh cảnh trầm luân, nhiễu nhương của thế sự. Bởi vậy, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… do mệt mỏi với quan trường ganh ghét, lòng người hiểm độc đã “quy khứ lai”- trở về với mây trắng núi ngàn để xoa dịu, thanh thản.
Những vần thơ“ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay tư tưởng sùng thượng tự nhiên của Nguyễn Trãi đều thể hiện một tư tưởng sống khiêm nhường, ẩn dật và hòa hợp vào “dòng sống thâm áo của thiên nhiên”. Sau này, đến Huy Cận cũng mang trong mình nỗi buồn của người con mất nước nên về với dòng sông quê hươngđể trút bầu tâm sự. Hay Hàn Mặc Tử những vần thơ đầy ắp ánh trăng, sông nước thể hiện một tâm hồn hòa hợp, giao cảm với thiên nhiên, với cuộc đời. Đối với con người có lẽ tiền tài, danh vọng, chức tước không phải là mục đích của sự sống mà việc con người trở về với cõi thiên nhiên, với bản thể của vũ trụ mới là mục đích chân chính nhất.
Với những gì thiên nhiên mang lại cho con người, nó xứng đáng được coi là đối tượng thẩm mỹ của văn học. Sự hiện diện của thiên nhiên trong các tác phẩm văn học góp phần tạo nên bức tranh văn học nhiều màu sắc, phần nào phản ánh được tâm tư, tư tưởng của tác giả, phản ánh được cuộc sống của thời đại. Qua hình ảnh thiên nhiên trong các tác phẩm văn học, người đọc có được tâm hồn thanh sạch, yêu quý và trân trọng cuộc sống hơn. Cùng với thiên nhiên thì đối tượng phản ánh quan trọng bậc nhất của văn học chính là con người.
Gorki nói: “Văn học là nhân học”, còn Nguyễn Minh Châu thì cho rằng: “Văn học và hiện thực là hai vòng tròn đồng tâm và tâm điểm là con người”. Tuy vậy, cái mà văn học quan tâm, không phải chỉ đơn thuần là 10 con người, văn học nghiên cứu con người trên phương diện xã hội, qua việc đặt con người trong một bối cảnh xã hội, thông qua những mối quan hệ để khám phá bản chất tâm hồn con người cũng như phát hiện ra những vấn đề mang tính khái quát, cấp thiết về con người, về cuộc đời. Con người là nhân tố quan trọng của cuộc sống. Đối tượng chính của văn học là con người - con người trong học tập, trong lao động, chiến đấu, con người trong tình yêu và trong những mối quan hệ xã hội khác, con người trong không gian, thời gian với thiên nhiên, vũ trụ bao la, rộng lớn… Văn học gắn bó mật thiết với hành trình của đời người và đến với cuộc sống con người bằng sự đồng điệu của tâm hồn.
Văn học chú trọng phản ánh tâm tư, tình cảm của con người thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sâu sắc. Tim ta bất chợt ngân lên bao nỗi niềm thương cảm trước số phận bất hạnh, đau khổ của nàng Kiều tài hoa bạc mệnh, hay hình ảnh Chí Phèo quằn quại trong đau đớn mà không thể quay trở về làm người, thương thay cho số phận của “thị” quay quắt trong cái đói … Quả thật “không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do cuộc sống viết nên” (Andecxen).Qua sự tái hiện tài tình của văn học, ta như đang trải nghiệm chính cuộc sống của những con người bất hạnh ấy. Ta đồng cảm trước những nỗi đau, trước những nỗi khốn khổ của họ. “Văn học là tiếng hát của con tim, là nơi dừng chân của tâm hồn…” (Khuyết danh).
Điều cốt lõi của văn chương chính là lòng nhân ái. Vô hình chung, con người trong tác phẩm văn học đã trở thành nhịp cầu đưa những con tim đồng cảm xích lại gần nhau hơn để cùng chia sớt những vui buồn, những ước mơ, khát vọng tuy bé nhỏ nhưng rất đỗi thân thương và ý nghĩa. Con người hiện diện trong văn học với tư cách là đối tượng thẩm mỹ không chỉ khơi lên trong ta những cảm xúc nhẹ nhàng, êm ái mà còn dạy ta biết xót thương, căm phẫn, lên án trước những cái xấu xa, cái ác trong cuộc sống. Đó cũng chính là điều mà tác phẩm văn học luôn hướng đến.
Tác phẩm văn học là một phương tiện quan trọng giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật của con người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, trở nên phong phú hơn và một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự phong 11 phú của chính mình, con người hiểu thêm về thế giới, sự phong phú của thế giới. Ngày nay đối với văn học không chỉ có vấn đề tốt xấu hay đúng sai mà còn có vấn đề chiều sâu của nhận thức. Nghệ thuật phải làm cho con người lương thiện và thân ái hơn, nhưng nó cũng phải làm cho con người đa dạng, phong phú, từng trải và hiểu biết hơn. Trong tác phẩm văn học, vấn đề về con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của văn học.
Tác phẩm có thể không có nhân vật người, nhưng nó phải là câu chuyện về cõi nhân sinh. Nhà văn có thể viết về đời sống nhưng phải có quan hệ con người, là hạnh phúc, tình yêu, nỗi cay đắng hay sự hèn hạ của con người, là những giá trị, nhân văn của cuộc sống. Trong một ý nghĩa giản dị, văn học là buồn vui đời người, là sự chiêm nghiệm về những gì được mất, là hồi ức về quá khứ, sự không thỏa mãn với hiện tại và dự cảm về tương lai, và trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong mối quan hệ với xã hội, tự nhiên và vũ trụ. Khi viết về con người, bên cạnh các tác phẩm thấm nhuần cảm hứng đạo lý truyền thống, đậm đà màu sắc tình cảm, văn học cần vượt lên để có được những tác phẩm hướng vào việc khám phá con người, tạo ra những chân dung mới về các kiểu tính cách của con người Việt Nam hiện nay.
Tóm lại, thiên nhiên và con người trở thành đối tượng thẩm mỹ đặc sắc của văn học, hiện diện trong mỗi một tác phẩm văn học. Thông qua hình tượng thiên nhiên và con người, chúng ta hiểu hơn về cuộc sống, khám phá được những điều bí ẩn trong tâm hồn của chính mỗi người. Thiên nhiên và con người trong tác phẩm văn học giúp ta thanh lọc tâm hồn, thắp lên trong ta bao yêu thương, khát vọng, chắp thêm cho ta đôi cánh để luôn vững vàng trước những khó khăn của cuộc sống. Văn học là người bạn đường thân thiết trên mọi nẻo đường, nuôi lớn và làm phong phú tâm hồn ta với thứ tình cảm giàu tính nhân văn cao cả.
Chính vì thế mà tác phẩm văn học không thể đứng riêng lẻ, tách rời mà phải gắn với cuộc đời, phải hòa mình vào cuộc sống của cộng đồng. Cái cao cả và cái bình thường, cái bi và cái hài… Cái cao cả và cái bình thường là hai phạm trù của mỹ học, là những bộ phận hợp thành hệ thống khách thể thẩm mỹ trong đời sống con người. Cái cao cả xuất 12 hiện trong khoa học muộn hơn phạm trù cái đẹp. Sở dĩ cái cao cả được nghiên cứu muộn hơn cái đẹp bởi vì trong thời kì cổ đại, với tư duy vũ trụ luận, con người còn hòa nhập một cách chỉnh thể đối với tự nhiên.
Lý thuyết về cái cao cả lúc đầu là khái quát cách sống của con người gắn với việc làm chủ các giá trị tinh thần của con người.