Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày khái quát về lý do nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu, đến việc đặt ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, kế tiếp là phương pháp nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu cũng như kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này sẽ trình bày cơ sở lý luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu và các nghiên cứu trước về khả năng dự báo của các tỷ số kế toán tài chính.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình và giả thuyết nghiên cứu cũng như dữ liệu nghiên cứu. 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm bao gồm kết quả phân tích hồi quy xu hướng, thống kê mô tả, ma trân hệ số tương quan và kết quả hồi quy logistic đồng thời thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trong chương này nêu lên các kết quả nghiên cứu rút ra từ quá trình phân tích và đưa ra những kiến nghị. Đồng thời chương này cũng trình bày những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương hai nghiên cứu cơ sở lý thuyết trong các nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt nam về khả năng dự báo khó khăn tài chính bằng các tỷ số tài chính dựa trên báo cáo tài chính thông qua sử dụng các mô hình dự báo khác nhau, từ đó xác định vấn đề chưa được nghiên cứu tại Việt Nam.
Chương hai gồm 4 mục.1 trình bày khái niệm về công ty khó khăn tài chính.2 trình bày các nghiên cứu trước ở nước ngoài.3 trình bày các nghiên cứu trước ở Việt Nam.4 so sánh với các nghiên cứu trước. Trong nghiên cứu tài chính, các nghiên cứu về phân tích tỷ số tài chính dựa trên báo cáo tài chính nhằm xác định và phân biệt các đặc điểm của công ty khó khăn tài chính đã có từ lâu (Fitzpatrick, 1931; Merwin, 1942). Nhưng những nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1968) có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực này. Họ đã phát hiện ra khả năng dự báo khó khăn tài chính của các tỷ số tài chính.
Dựa trên nghiên cứu nền tảng này, các nghiên cứu về sau sử dụng các mô hình khác nhau nhằm tìm ra các tỷ số tài chính có khả năng dự báo tốt nhất khó khăn tài chính của công ty. Khái niệm về công ty khó khăn tài chính Có rất nhiều định nghĩa về công ty khó khăn tài chính được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các nghiên cứu trước. Định nghĩa hẹp như phá sản, đóng cửa và định nghĩa rộng như thất bại, khó khăn. Trong các nghiên cứu trước, các tác giả sử dụng khái niệm phá sản theo luật định bởi vì nó cung cấp điều kiện khách quan cho phép các nhà nghiên cứu dễ dàng phân loại mẫu nghiên cứu (Charitou, Neophytou & Charalambous, 2004).
Đó là các tác giả Altman (1968); Beaver, McNichols & Rhie (2005); Charitou, Neophytou & Charalambous (2004); Chi & Tang (2006); Gentry, Newbold & Whitford (1985); Hamer (1983); He & Kamath (2006); McKee (2000); Norton & Smith (1979); Platt 6 & Platt (1990; 1991); Pongsatat, Ramage and Lawrence (2004); Shumway (2001); Sung, Chang & Lee (1999); Wilcox (1973). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu phân biệt công ty khó khăn tài chính theo điều kiện tài chính với hàm ý công ty có lợi nhuận tích lũy âm, chi trả cổ tức giảm, vi phạm hợp đồng vay nợ, dòng tiền hoạt động âm như Bae (2012); Beaver (1966, 1968a, 1968b); Coats & Fant (1993); Fitzpatrick (1931); Gilbert, Menon & Schwartz (1990); Hill, Perry & Andes (1996); Kahya & Theodossiou (1999); Ketz & Largay (1987); Li & Sun (2011); Merwin (1942); Pindado & Rodrigues (2005); Purnanandam, (2008). Các tác giả sử dụng kết hợp cả hai định nghĩa khó khăn tài chính theo luật định và theo điều kiện tài chính như Blum (1974); Hing & Lau (1987); Jones & Hensher (2004); Leksrisakul (2004); Reisz & Perlich (2007); Ugurlu & Aksoy (2006). Ở Việt Nam, Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu coi là lâm vào tình trạng phá sản”, thì theo điều 4, Luật Phá sản 20142 đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn, doanh nghiệp được cho là mất khả năng thanh toán “khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”, trong khi đó phá sản là “tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”.
Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản khi (i) doanh nghiệp không còn tài sản để thanh toán lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay chi phí phá sản, (ii) hội nghị chủ nợ đã được hoãn nhưng khi triệu tập lại vẫn không đáp ứng điều kiện theo quy định, (iii) hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết trong lần họp đầu hay không tổ chức lại được hội nghị chủ nợ để thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hay không thông qua được nghị quyết về phương án này, hoặc (iv) doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn quy định, không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc vẫn 2 Ngày 19-6-2014, Luật Phá sản 2014 (Luật số 51/2014/QH13) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2015 7 mất khả năng thanh toán khi hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.3 Đối với các tổ chức niêm yết chứng khoán, theo qui định có các trường hợp sau : công ty bị cảnh báo, bị kiểm soát, bị ngưng giao dịch và bị hủy bỏ niêm yết.4 Theo quy định, cổ phiếu bị cảnh báo5 khi doanh nghiệp có nợ quá hạn trên 1 năm hoặc tỷ lệ nợ quá hạn cao trên 10%; không có đủ cổ đông nắm giữ 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty; lợi nhuận sau thuế của năm tài chính là số âm; tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh chính; Cổ phiếu không có giao dịch trong vòng 90 ngày; vi phạm công bố thông tin; trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Cổ phiếu bị kiểm soát 6 khi công ty không khắc phục được tình trạng dẫn đến chứng khoán bị cảnh báo; vi phạm nghiêm trọng các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Cổ phiếu bị hủy niêm yết bắt buộc là trường hợp công ty niêm yết không còn đáp ứng được các quy định như vốn điều lệ giảm xuống dưới 80 tỷ đồng7, ngừng hoặc bị ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh chính từ một năm trở lên; sản xuất kinh doanh bị lỗ 3 năm liên tiếp và tổng số lỗ lũy kế vượt quá số vốn điều lệ thực góp trong báo cáo tài chính kiểm toán năm gần nhất trước thời điểm xem xét; bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành; Cổ phiếu không có giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán trong vòng 12 tháng; chấm 3 Điều 105 – 107, Chương 9 Luật Phá sản 2014 4 Theo điều số 14, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và điều 60, mục 1, chương V của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012. 5 Quyết định 04/QD-SGDHCM ngày 17/04/2009 6 Quyết định 04/QD-SGDHCM ngày 17/04/2009.
7 Quyết định 168/QD-SGDHCM ngày 07/12/2007 về việc ban hành quy chế niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM 8 dứt sự tồn tại do sáp nhập, hợp nhất, chia, giải thể hoặc phá sản; Tổ chức kiểm toán có ý kiến không chấp nhận hoặc từ chối cho ý kiến đối với báo cáo tài chính năm gần nhất; chậm nộp báo cáo tài chính năm trong 3 năm liên tiếp8; và một số quy định khác. Trường hợp hủy niêm yết tự nguyện là trường hợp tổ chức niêm yết đề nghị hủy bỏ niêm yết và có nghị quyết đại hội cổ đông đồng ý9. Ở Việt Nam, trong các nghiên cứu trước có các tác giả phân biệt công ty khó khăn tài chính theo luật định (Nguyễn Bảo Khang, 2012; Trần Thị Kim Phượng, 2012; Nguyễn Thị Phương Thao, 2012). Tuy nhiên, vì các công ty bị phá sản hay bị hủy niêm yết theo luật định rất ít nên có tác giả định nghĩa khó khăn tài chính theo điều kiện tài chính như không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tín dụng đối với bên đối tác, vốn lưu động âm, vốn hóa thị trường nhỏ hơn tổng nợ (Đào Thị Trang, 2013).
Bên cạnh đó, có tác giả kết hợp cả hai điều kiện như công ty bị hủy niêm yết, bị cảnh báo và chỉ tiêu vốn cổ phần nhỏ hơn tổng nợ, lợi nhuận sau thuế âm hai năm liên tục (Lương Trọng Đức, 2012); công ty bị hủy niêm yết, bị cảnh báo và lợi nhuận trên tổng tài sản âm, vốn lưu động âm, vốn hóa thị trường nhỏ hơn tổng nợ (Dương Văn Khải, 2013). Tóm lại, dựa trên các nghiên cứu trước và kết hợp tình hình thực tế ở Việt Nam, nghiên cứu này phân biệt công ty thuộc nhóm khó khăn tài chính khi có ít nhất một trong hai tiêu chí sau : (1) Lợi nhuận sau thuế âm 1 năm (công ty bị cảnh báo). 8 Điều 60, mục 1, chương V của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP do Thủ tướng ký ban hành ngày 20/07/2012. 9 65% số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp theo Quyết định 168/QD-SGDHCM và 50% số phiếu biểu quyết của các cổ đông không phải là cổ đông lớn theo Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.
Các nghiên cứu trước ở nước ngoài Trải qua gần 50 năm qua, dự báo khó khăn tài chính đã phát triển thành một nhánh nghiên cứu chính trong tài chính công ty. Có rất nhiều nghiên cứu sử dụng các chỉ số kế toán tài chính để dự báo khó khăn tài chính như Beaver (1966), Altman (1968), Altman, Hatzell & Peck (1995), Ohlson (1980), Li & Sun (2011); Lin, Liang & Cheng (2011), Bae (2012), Horta & Camanho (2013) và Lin & ctg. Các nhà nghiên cứu ở các nước khác nhau đã không ngừng tìm kiếm các tỷ số tài chính có khả năng dự báo tốt nhất khó khăn tài chính bằng các mô hình khác nhau (Bảng 2.