CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu cũng như cấu trúc của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày chi tiết về các vấn đề lý thuyết sẽ được áp dụng trong đề tài như: Dữ liệu chuỗi thời gian, Dữ liệu chuỗi thời gian có tính hỗn loạn, Mạng nơ-ron học sâu LSTM, Xây dựng lại không gian pha. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương này trình bày sơ lược các công trình có liên quan đến dự báo dữ liệu chuỗi thời gian có tính hỗn loạn bằng ANN (Artificial Neural Networks), các công trình liên quan đến dự báo dữ liệu chuỗi thời gian có tính hỗn loạn sử dụng mạng RBF (Radius Basic Fucntion) và mạng RBF xây dựng lại không gian pha, mạng nơ-ron học sâu DBN (Deep Belief Network) và cuối cùng là các công trình liên quan đến dự báo dữ liệu chuỗi thời gian có tính hỗn loạn sử dụng mạng nơ-ron học sâu LSTM kết hợp với tái tạo không gian pha.
HỌ VÀ TÊN: VĂN TẤN VIỄN – MSHV: 1970221 Trang 4 DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM CHƯƠNG 4. XÂY DỰNG MÔ HÌNH HUẤN LUYỆN VÀ DỰ BÁO DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM KẾT HỢP VỚI TÁI TẠO KHÔNG GIAN PHA Chương này trình bày chi tiết hơn thuật toán huấn luyện mạng nơ-ron học sâu LSTM sử dụng giải thuật lan truyền ngược qua thời gian BPTT (back propagation through time). Các kỹ thuật khởi tạo trọng số cho mạng LSTM (Long Short Term Memory). Đồng thời trình bày ý tưởng và hiện thực cho mô hình dự báo chuỗi thời gian có tính hỗn loạn.
THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ Chương này trình bày thực nghiệm và đánh giá, so sánh độ chính xác trong dự báo cũng như thời gian huấn luyện mạng sử dụng mạng nơ-ron học sâu LSTM kết hợp với tái tạo không gian pha và mạng nơ-ron học sâu DBN kết hợp với tái tạo không gian pha. KẾT LUẬN Chương này đánh giá kết quả đạt được, các mặt hạn chế và hướng phát triển của đề tài. HỌ VÀ TÊN: VĂN TẤN VIỄN – MSHV: 1970221 Trang 5 DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Phần đầu của chương này trình bày sơ lược về dữ liệu chuỗi thời gian.
Phần thứ hai của chương này trình bày về dữ liệu chuỗi thời gian có tính hỗn loạn và một số khái niệm cơ bản liên quan tới chuỗi thời gian có tính hỗn loạn. Phần cuối cùng của chương này trình bày về mạng LSTM, giải thuật lan truyền ngược qua thời gian để huấn luyện mạng LSTM. DỮ LIỆU CHUỖI THỜI GIAN Chuỗi thời gian có thể được xem là tập hợp dữ liệu trong không gian hai chiều, với bộ giá trị (T, V), trong đó T là thời điểm giá trị được xác định, V là giá trị quan sát tương ứng. Vì khoảng thời gian quan sát là bằng nhau nên có thể không quan tâm đến T.
Lúc này, chuỗi thời gian có thể xem là dữ liệu n chiều. Trong phạm vi đề tài này, chuỗi thời gian được nhìn dưới góc độ là dữ liệu n chiều, được ký hiệu là {𝑋𝑡 | 𝑡 = 1, 2, 3, … , 𝑛} Hình 2.1 dưới đây là một ví dụ về dữ liệu chuỗi thời gian thể hiện lượng mưa hàng năm ghi nhận tại Los Angeles – California (từ năm 1880 đến năm 1980). Minh họa chuỗi thời gian lượng mưa hàng năm ghi nhận tại Los Angeles – California Trong thực tế, khi quan sát chuỗi thời gian ta nhận thấy bốn thành phần ảnh hưởng lên mỗi giá trị của chuỗi thời gian đó là thành phần xu hướng (trend component), thành phần chu kỳ (cyclical component), thành phần mùa (seasonal component) và thành phần bất thường (irregular component). HỌ VÀ TÊN: VĂN TẤN VIỄN – MSHV: 1970221 Trang 6 DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM Việc xác định một chuỗi thời gian có thành phần xu hướng hay thành phần mùa hay không rất quan trọng trong bài toán dự báo chuỗi thời gian.
Nó giúp ta lựa chọn được mô hình dự báo phù hợp hay giúp cải tiến mô hình đã có chính xác hơn. Và các mẫu quan sát được theo thời gian dựa trên các chuỗi thời gian chính là cơ sở để hiểu được đặc tính cũng như là dự báo các hành vi tương lai của đối tượng đó. DỮ LIỆU CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN 2. Tính hỗn loạn Sự hỗn loạn là một hành vi trong thời gian dài không có tính chu kỳ (aperiodic long term) phát sinh trong hệ động lực (dynamical system) và phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu [13] hoặc là hiệu ứng bươm bướm (butterfly effect - là cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ thống đối với điều kiện gốc) trong nghiên cứu ban đầu về dự báo thời tiết và vì vậy được coi là nguồn gốc của sự hỗn loạn.
Sau đó, sự hỗn loạn được mở rộng trong nghiên cứu và có nhiều nội dung quan trọng được giới thiệu như là số chiều, số mũ Lyapunov, biến đổi Fourier và biến đổi Hilbert, xây dựng lại không gian pha (phase space reconstruction). Trong toán học, sự hỗn loạn có thể được biểu diễn bằng cả hai phương trình rời rạc và liên tục [14] [15]. Hệ thống rời rạc có thể được diễn tả như sau : 𝑥𝑛−1 = 𝑓(𝑥𝑛 ) (2.1) trong đó 𝑓 (𝑥𝑛 ) là hàm số thể hiện đầu ra mong muốn tại thời điểm n và có thể biểu diễn bằng biểu đồ Logistic, biểu đồ Hénon, biểu đồ tiêu chuẩn (standard map), biểu đồ lều (tent map), biểu đồ vòng tròn (circle map) và biểu đồ Ikeda. Hệ thống liên tục có thể diễn tả bằng một phương trình khác : 𝑑𝑥(𝑡) (2.2) = 𝐹(𝑥(𝑡)) 𝑑𝑡 trong đó 𝑥 (𝑡 ) = [𝑥1 (𝑡), 𝑥2 (𝑡), 𝑥3 (𝑡), … , 𝑥𝑚 (𝑡)] là véc-tơ trạng thái tại thời điểm t.
Các phương trình thể hiện cho tính hỗn loạn điển hình là phương trình Lorenz, phương trình Rössler, phương trình của Duffing. HỌ VÀ TÊN: VĂN TẤN VIỄN – MSHV: 1970221 Trang 7 DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM Một ví dụ đơn giản của một chuỗi thời gian có tính hỗn loạn được đưa ra trong Hình 2.2, thu được bằng cách quan sát tọa độ x của biểu đồ Hénon [15] [16] 𝑥𝑛+1 = 1 − 𝑎(𝑥𝑛 )2 + 𝑦𝑛 (2.4) trong đó a và b là các tham số. Trong trường hợp này a = 1.3, hàm quan sát là 𝜑(𝑥𝑛 , 𝑦𝑛 ) = 𝑥𝑛 và 𝜑𝑛 = 𝑥𝑛 .2 Chuỗi thời gian có tính hỗn loạn {xn} từ biểu đồ Henon Hình 2.3 Chuỗi thời gian {𝝋𝒏 } nhận được từ phương trình Lorenz Hình 2.3 là một ví dụ khác, lần này được thực hiện bằng cách quan sát toạ độ z của phương trình Lorenz: HỌ VÀ TÊN: VĂN TẤN VIỄN – MSHV: 1970221 Trang 8 DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN CÓ TÍNH HỖN LOẠN DỰA VÀO MẠNG NƠ-RON HỌC SÂU LSTM 𝑑𝑥 = 10(𝑦 − 𝑥) 𝑑𝑡 𝑑𝑦 = −𝑥𝑧 + 28𝑥 − 𝑦 (2. Cách xác định tính hỗn loạn dựa vào số mũ Lyapunov Số mũ Lyapunov là đại lượng quan trọng nhất trong hệ thống mang tính hỗn loạn, một số mũ Lyapunov tối đa dương là sự xác thực mạnh mẽ của tính hỗn loạn.
Số mũ Lyapunov là số thước đo khoảng cách của hai quỹ đạo lân cận trong không gian pha với điều kiện ban đầu. Nếu nó là số dương, thì khoảng cách giữa quỹ đạo lân cận phát triển theo số mũ và hệ thống thể hiện sự phụ thuộc nhạy cảm vào những điều kiện ban đầu, vì vậy nó là hỗn loạn. Ngược lại, số mũ Lyapunov tối đa là 0 biểu thị một chu kỳ giới hạn hoặc quỹ đạo bán chu kỳ và số mũ Lyapunov tối đa âm biểu diễn một điểm cố định (nghĩa là hệ thống không nhạy cảm với điều kiện ban đầu). Theo Eckmann và các cộng sự (1986) [17] một hệ thống m chiều có m số mũ Lyapunov với 𝜆1 , 𝜆2 ,…, 𝜆𝑚 trong thứ tự giảm dần.
Phương trình vi phân véc-tơ 𝜕𝑥 trong không gian tiếp tuyến (tangent space) 𝑥(𝑡): dδx ∂F = δx (2.6) dt ∂x Giải quyết phương trình trên như sau: δx(t) = At δx(0) (2.7) ∫(𝜕𝐹 Trong đó: 𝐴𝑡 = 𝑒 ( 𝜕𝑥 ) 𝑑𝑡 là toán tử tuyến tính khai triển một véc-tơ vi phân tại thời điểm 0 đến thời điểm 𝑡. Tỉ lệ số mũ trung bình của tính phân kỳ của véc-tơ tiếp tuyến (tangent vector) được cho bởi: 1 𝛿𝑥(𝑡) 𝜆 [𝑥(0), 𝛿𝑥(0)] = 𝑙𝑖𝑚 𝑙𝑛 | | (2.9) Trong đó 𝑒𝑖 là véc-tơ cơ sở m chiều. Theo quan sát, mỗi số mũ Lyapunov là một giá trị trung bình của tỉ lệ phân kỳ cục bộ trên toàn bộ không gian attractor. Trong các hệ thống mang tính hỗn loạn, giá trị của 𝜆𝑖 không phụ thuộc vào lựa chọn của điều kiện ban đầu 𝑥(0) (nghĩa là quỹ đạo lân cận sẽ tách biệt theo hàm số mũ nhanh chóng), trong chừng mực nào đó 𝑥(0) được chọn ngẫu nhiên [14] [18].
Để kiểm tra rằng một chuỗi thời gian là mang tính hỗn loạn hay không, một điều cần thiết là phải tính toán 𝜆𝑖 đó là số mũ Lyapunov cao nhất 𝜆𝑚𝑎𝑥. Việc tính 𝜆𝑚𝑎𝑥 thì dễ dàng hơn với việc tính toán tất cả các giá trị của 𝜆𝑖 vì quỹ đạo mang tính hỗn loạn sẽ tự động đạt đến theo hướng mở rộng tối đa (maximum expending direction). Một cách tương tự, một quỹ đạo mang tính hỗn loạn sẽ tự động đạt đến theo hướng thu hẹp tối đa (maximum contracting direction) nếu chúng ta để nó làm ngược lại quá trình với 𝑡 → −𝑡, dẫn đến tính toán giá trị nhỏ nhất của số mũ Lyapunov 𝜆𝑚. Về số lượng có thể tính toán 𝜆max như sau: • Lựa chọn 2 điểm gần nhất và khoảng cách giữa chúng là 𝑑0 ≪ 1.
Sau khi tích hợp hệ thống động lực trong một khoảng thời gian nhỏ 𝜏 thì khoảng cách là 𝑑𝑖. Cho rằng attractor có kích thước hữu hạn, nó dễ dàng cho quỹ đạo tiếp cận đường biên của attractor. Một khi nó xảy ra, khoảng cách 𝑑𝑖 sẽ không gia tăng số mũ. Một cách thức phù hợp để giải quyết vấn đề này là sự tái chuẩn hóa (renormalization), tạo cho việc đánh giá bắt đầu tại một khoảng cách nhỏ hơn một lần nữa.
Cụ thể, chúng ta lựa chọn một điểm mới tại vị trí cuối cùng của quỹ đạo và cho chúng khoảng cách là 𝑑0. Thực hiện tích hợp một lần nữa chúng ta sẽ nhận được một 𝑑𝑖. Chúng ta có: 1 di λmax = lim ln (2.