mở đầu cho hướng nghiên cứu sâu, đánh giá đúng thực chất một hiện tượng thơ có giá trị đầu thế kỷ XX. Các bài : Văn học Pháp và sự gặp gỡ với Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Đặng Anh Đào). Ảnh hưởng Văn học Pháp tới Văn học Việt Nam trong giai đoạn 1932 - 1940 (Phan Ngọc), Ảnh hưởng của Văn học Pháp và Văn học Anh vào Văn học Việt Nam từ 1930 (Phan Cự Đệ), Ảnh hưởng đối với “Thơ Mới” Việt Nam từ phía thơ ca Pháp (Lê Đình Kỵ), Văn học Pháp hiện đại và Việt Nam (Lộc Phương Thủy), Thơ La Fontaine và “Thơ Mới” (Nguyễn Tường Lịch), Baudelaire, chủ nghĩa tượng trưng và “Thơ Mới” (Hoàng Ngọc Hiến), Viết về Rimbaud 1854 -1891 (Đỗ Đức Hiểu) đã nghiên cứu “Thơ Mới” ảnh hưởng Văn học Pháp ở mặt từ ngữ: như việc xuất hiện rất nhiều "từ định lượng, từ sở hữu, từ định nghĩa", "sự cá thể hóa cao độ nhân vật trữ tình"; cũng như kết cấu: "nhịp câu, vần điệu và thể thơ" [24, tr 2-3]. Các tác giả cho rằng “Thơ Mới” chịu ảnh hưởng hơn một thế kỷ thơ Pháp, từ trường phái lãng mạn đầu thế kỷ XIX (Chateaubriand, Lamartine, Hugo, Musset, Vigny.) đến trường phái Thi Sơn (Théophile Gautier, Leconte de Lisle.) qua Baudelaire đến trường phái tượng trưng (Verlaine, Rimbaud, Mallarmé) và các trường phái khác của thế kỷ XX.
Sự ảnh hưởng sâu sắc đến nỗi "đổi mới chuyển hướng cả một nền thi ca" [79, tr. 27] góp phần đưa thơ ca Việt Nam hội nhập với thế giới. Các bài Ông Đồ dịch thơ Ác Hoa (Văn Tâm), Vũ Hoàng Chương - Nhìn từ phương Tây, cái hiện đại (Đỗ Đức Hiểu), đối chiếu so sánh với Baudelaire, Bài thơ Huyền diệu của Xuân Diệu và quan niệm "Tương ứng các giác quan" của Baudelaine (Nguyễn Lệ Hà), Ảnh hưởng của thơ nước ngoài trong thơ Chế Lan Viên (Nguyễn Xuân Nam) và Hoàng Nhân với các bài: Xuân Diệu và Baudelaire, André Breton và Hàn Mặc Tử đã đi tìm sự gặp gỡ, tương giao qua hồn thơ, phong cách và nghệ thuật, khai thác tính hiện đại (la modernité) của thơ Xuân Diệu, siêu thực của thơ Hàn Mạc Tử. Chẳng hạn về Xuân Diệu và Baudelaire, Nguyễn Lệ Hà nhận xét: Chọn câu thơ nổi tiếng của Charles Baudelaire (1821 - 1867) trong bài Tương ứng (Correspondances 1846-1847): "Les parfums, les couleurs et les sons se repondent" (Hương thơm, màu sắc, âm thanh đáp ứng nhau) làm đề từ cho bài thơ, Xuân Diệu đã bộc lộ niềm tâm đắc của ông với quan niệm thẩm mỹ của nhà thơ Pháp thế kỷ XIX: Quan niệm "tương ứng các giác quan" (Correspondance de sens) [40, tr 28].
Còn Đỗ Đức Hiểu thấy " Vũ Hoàng Chương nhập thân vào ngôn từ quay cuồng của tinh thần đô thị, đức tính hiện đại của Baudelaire" [48, tr. Hiện đại, siêu thực nhưng đầy tinh thần sáng tạo và rất Việt Nam. Do vậy khi nói siêu thực của Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên nhận xét "Siêu thực Châu Âu là siêu thực vì bộ óc. Hàn Mạc Tử thì vì nàng đánh tôi đau quá".
Hoàng Nhân cho rằng: "Ở Hàn Mạc Tử vẫn đậm đà bản sắc của một tâm hồn thơ Việt Nam" [84, tr. Với vốn hiểu biết phong phú, tinh thần nghiên cứu khoa học, các tác giả đã chỉ ra điểm ảnh hưởng đồng thời phát hiện tinh thần sáng tạo và khẳng định hồn thơ đậm đà dân tộc của các nhà “Thơ Mới”. Ảnh hưởng Văn học Pháp đến Văn học Việt Nam 1930 - 1945 đặc biệt là với “Thơ Mới” đã được Hoài Thanh, Hoài Chân đề cập đến trong tiểu luận nổi tiếng "Một thời đại trong thi ca" để cho đến bây giờ trong không khí dân chủ hóa, các nhà nghiên cứu có điều kiện trở lại vấn đề rộng hơn, sâu hơn, có những đánh giá khách quan và thỏa đáng. Những năm gần đây thi pháp học hiện đại được các nhà nghiên cứu sử dụng làm công cụ khám phá văn chương : như Quan niệm nghệ thuật về con người, hình tượng tác giả, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật.
Nghiên cứu về “Thơ Mới” có các bài : Vài cảm nhận về không gian nghệ thuật trong “Thơ Mới” - (Nguyễn Kim Đính). Thời gian nghệ thuật trong thơ (“Thơ Mới” 1932-1945), Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu (Qua hai tập: Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió) của (Nguyễn Thị Hồng Nam) Thế giới không gian nghệ thuật của Xuân Diệu qua Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió - (Lý Hoài Thu), Cảm xúc thời gian trong thơ Xuân Diệu - (Lê Quang Hưng), Nghệ thuật cấu tứ trong thơ tình - Xuân Diệu - (Lưu Khánh Thơ), Thời gian nghệ thuật thơ Chế Lan Viên - (Đoàn Trọng Huy), Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật trong thơ - (Huỳnh Văn Hoa). Đây là hướng nghiên cứu có nhiều phát hiện mới mẻ trên bình diện đổi mới thi hứng, tuy nhiên các bài còn tập trung một số bài thơ, tập thơ, nhà thơ. Nghiên cứu theo đề tài, chủ đề chẳng hạn như: Thiên nhiên như một biểu hiện của cái tôi trữ tình trong “Thơ Mới” (Phan Huy Dũng), Sự trở về với cái tôi - một đóng góp của “Thơ Mới” lãng mạn (Phạm Quang Long), Về cái buồn của “Thơ Mới” (Hoài Chân) là những chủ đề chính của nội dung “Thơ Mới” được các nhà nghiên cứu quan tâm lý giải: "Thiên nhiên như một khách thể chi phối mạnh mẽ phương thức sáng tạo, thể hiện của các nhà “Thơ Mới”" [21, tr.
2] ; “Thơ Mới” đã có những đóng góp to lớn cho mạch văn dân tộc trong việc phát hiện "cái tôi bản thể, cái tôi con người, cái tôi với tư cách là đối tượng nhận thức và phản ánh thi ca" [71, tr. 82]; “Thơ Mới” đã đưa thơ tình yêu lên đỉnh điểm của thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945; "cái buồn của “Thơ Mới” là cái buồn của những con người tâm huyết đau buồn vì bế tắc chưa tìm ra lối thoát [7, tr. Ở hướng nghiên cứu này tác giả được chú ý nhiều nhất là Xuân Diệu với các bài : Nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu - Qua hai tập Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió (Lý Hoài Thu), Cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện cái tôi tình yêu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng (Lưu Khánh Thơ), Tinh thần phục hưng trong lý tưởng thẩm mỹ của Xuân Diệu thời trước 1945 (Lê Quang Hưng), Nhận diện Xuân Diệu qua Thơ Thơ và Gửi Hương cho gió (Lưu Khánh Thơ), Thơ tình Xuân Diệu nồng và trẻ (Vũ Quần Phương), Xuân Diệu, nhà thơ tình (Vũ Ngọc Phan). Vấn đề “Thơ Mới” và thơ hôm nay được các nhà nghiên cứu tranh luận sôi nổi.
Trần Thanh Đạm trong bài "“Thơ Mới” 1930 - 1945 và thơ hôm nay" đã khẳng định sự đổi mới “Thơ Mới” trên cả hai bình diện thi pháp và thi hứng. Trong đó thi hứng - "nguồn cảm hứng của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa lãng mạn trở thành linh hồn của “Thơ Mới”" [25, tr. 3] đồng thời tác giả cũng thấy rằng: "Mọi cách tân về thi pháp phù hợp với cách tân về thi hứng thì được tồn tại và phát huy, những gì cực đoan, quá khích, lố lăng, lai căng ngoài tác động khoấy động nhất thời sự chú ý của dư luận đã nhanh chóng bị loại bỏ". Và theo tác giả lần đổi mới của “Thơ Mới” là lần thứ ba (trong thế kỷ XX này thơ Việt Nam đã trải qua ít nhất là sáu lần đổi mói) và lần thứ sáu là trong cuộc đổi mới thơ hôm nay có chỗ giống nhau là "đi đôi với chuyển biến trong sáng tác thơ, có diễn ra những cuộc thảo luận, tranh luận về mới, cũ trong thơ, nhất là trên phương diện thi pháp".
Từ đó trên tinh thần khách quan, toàn diện, tích cực, nhìn nhận “Thơ Mới” là một hiện tượng lịch sử, xã hội, tác giả khẳng định: "Về cơ bản “Thơ Mới” đã chấm dứt với Cách mạng tháng Tám để khởi đầu một cuộc cách tân mới của thơ với nguồn thi hứng mới kéo theo một hệ thi pháp mới". Với cái nhìn biện chứng tác giả đã phủ nhận ý kiến cho rằng thơ Việt Nam hiện nay vẫn chưa thoát khỏi phạm trù “Thơ Mới”. Cùng với ý kiến trên có các bài: Hành trình thơ Việt Nam hiện đại (Trần Đình Sử ). Về một xu hướng đổi mới thi pháp thơ hiện nay (Đỗ Lai Thúy).
Nhận diện thơ sau cách mạng tháng Tám, Chuyện “Thơ Mới” (trao đổi với nhà thơ Huy Cận) (Lê Đình Kỵ); Có một thời đại mới trong thi ca (Trần Mạnh Hảo); Nhìn lại tiến trình thơ hiện đại (Vũ Quần Phương). Đáng chú ý cuộc tranh luận mới giữa Phạm Xuân Nguyên và Trần Mạnh Hảo. Khi Phạm Xuân Nguyên cho rằng: "Thơ Việt miền Bắc mấy chục năm qua về cơ bản vẫn là “Thơ Mới” theo hướng lặp lại và nối tiếp. Thơ Việt miền Nam đã một lần muốn làm cuộc cách mạng thi ca với nhóm Sáng tạo và thi sĩ tiên phong là Thanh Tâm Tuyền đã nhúc nhích đi tới hiện đại".
Trần Mạnh Hảo trong bài: "Có một thời đại mới trong thi ca", với một cái nhìn khách quan đã cho rằng “Thơ Mới” đã tới đỉnh cao. "nó đã bước tiếp một bước nữa và cũng là bước cuối cùng của mình. Cái bước chấm hết kia của “Thơ Mới” có tên là Xuân Thu Nhã tập". Và chứng minh rằng thơ hôm nay (sau “Thơ Mới” ) "thơ ca Việt Nam đã được đổi mới thêm một lần nữa cả về nội dung lẫn hình thức" [44, tr.
Nguyễn Hưng Quốc, trong "Thơ, v." đặt “Thơ Mới” trong bối cảnh lịch sử xã hội những năm 30 và so sánh với loại hình thơ trung đại, cho rằng: “Thơ Mới” đã thật sự thoát hẳn quỹ đạo văn hóa trung đại với ba sự cách tân quan trọng nhất "sự đồng nhất giữa khái niệm dòng thơ và khái niệm câu thơ bị phá vỡ. khái niệm khổ thơ được hình thành. chủ nghĩa cá nhân được đề cao" và tác giả đi đến kết luận "Nền tảng của ba sự cách tân trên là sự xuất hiện của một quan niệm mới về chức năng của thơ và một hình ảnh về nhà thơ. Thơ không còn được dùng để chở đạo hay để nói chí nữa mà là, trước hết để thể hiện cái đẹp, để bộc lộ thế giới nội tâm, để góp nhặt những "thanh sắc trần gian" "Nhà thơ là một khách tình si".
Song có lẽ do ý đồ chính trị tác giả phủ nhận những đóng góp của một nền thơ sau 1945, với một thái độ miệt thị đáng lẽ ra không nên có ở một nhà phê bình văn học. Trong khi đó, Thi Vũ, trong cuốn "Bốn mươi năm thơ Việt Nam" (1945-1985) lại có những nhận xét khá sắc sảo, khá xác đáng về nền thơ kháng chiến đã bước qua nền thơ tiền chiến.