CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan tới đề tài Chủ đề giáo dục thế kỷ XXI của Ủy ban quốc tế về giáo dục đã nhấn mạnh: "Mặc dù GV không phải là tất cả, nhưng họ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài"; "Mục tiêu của học tập là học để hiểu, học để thực hành, học để sống chung và học để phát triển bản thân"; "Học tập được coi là một giá trị tốt đẹp nội tại". Hiện nay, hệ thống giáo dục của chúng ta vẫn chưa thể đảm bảo đạt được tất cả bốn mục tiêu của Ủy ban quốc tế về giáo dục trong chủ đề giáo dục thế kỷ XXI. Thế kỷ XXI thường được gọi là thời đại của Nền kinh tế dựa trên Kỹ năng (Skills Based Economy) bởi Ngân hàng Thế giới.
Khả năng của con người được đánh giá dựa trên ba khía cạnh chính: kiến thức, kỹ năng, và thái độ, tất cả trong ngữ cảnh có ý nghĩa. Giáo dục nước ta hiện nay đang cố gắng chuyển dần từ đánh giá kiến thức của HS sang đánh giá phẩm chất và năng lực làm việc của HS. Người học không chỉ nắm kiến thức mà điều quan trọng hơn là phải phát triển các kỹ năng thực hiện liên quan đến kiến thức đó. Senge đã từng nói: "Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là khả năng học nhanh hơn đối thủ." Rõ ràng, để nâng cao khả năng cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ, thì phải biết cách dạy và cách học.
Giáo dục sẽ mãi mãi tụt hậu nếu chỉ chăm chú nhồi nhét kiến thức của nhân loại vào đầu HS mà quên đi sứ mạng quan trọng là giáo dục phẩm chất sống, năng lực học tập và sử dụng kiến thức. Dạy học tích hợp sẽ là nền tảng giúp phát triển năng lực cho HS để các em biết cách bảo vệ cuộc sống và sống có trách nhiệm với cộng đồng [25]. 9 Dạy học tích hợp hiện nay được coi là một xu hướng quan trọng trong lĩnh vực giáo dục, đại diện cho sự phát triển tối ưu của lý luận dạy học và đã được thực hiện rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khu vực Đông Nam Á, hầu hết các quốc gia đã áp dụng quan điểm tích hợp trong dạy học, mặc dù ở mức độ khác nhau.
Vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, UNESCO đã tổ chức các hội thảo và báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học. Xu hướng chung hiện nay của các quốc gia trên toàn cầu, đặc biệt là ở cấp tiểu học THCS, là tăng cường tích hợp hơn nữa. Theo UNESCO (từ năm 1960 đến 1974), 208/392 chương trình môn Khoa học trong chương trình GDPT của các quốc gia đã thể hiện quan điểm tích hợp ở các mức độ khác nhau. Một nghiên cứu gần đây về chương trình GDPT của 20 quốc gia cho thấy rằng tất cả các quốc gia này đều đang xây dựng chương trình theo hướng tích hợp [25].
Dạy học tích hợp là một xu thế hiện đại, xu thế dạy học tất yếu và phù hợp với định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học, đã và đang thực hiện ở các cấp học trong chương trình giáo dục nước ta, xu thế này không mới so với các chương trình giáo dục tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, để chuyển đổi từ chương trình dạy học mang tính lý thuyết, hàn lâm sang chương trình đào tạo nghề, giảm bớt giờ lý thuyết tăng cường các giờ học tích hợp, tăng cường sự tương tác giữa GV và người học thì cần phải có sự cố gắng rất lớn từ phía người dạy, người học và nhà trường. Mục tiêu giáo dục có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc thực hiện mạnh mẽ sự đổi mới trong cách tiếp cận phương pháp dạy học, việc soạn giảng và cách truyền thụ kiến thức một cách hợp lý. Việc triển khai dạy học tích hợp, chương trình dạy học tích hợp và các giờ dạy tích hợp đã được thực hiện tại nhiều cấp học, từ bậc học phổ thông đến cao đẳng và đại học.
Theo Từ điển giáo dục học, "Tích hợp" được định nghĩa là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, 10 giảng dạy và học tập trong cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học. Nó có thể được hiểu một cách đơn giản hơn là dạy lý thuyết và thực hành cùng một lúc. Dạy học tích hợp là một giải pháp phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực của người học, đồng thời góp phần "giảm tải" chương trình. Nó có ý nghĩa rất quan trọng, thông qua bài học, HS có cơ hội tổng hợp các kỹ năng và kiến thức liên quan đến nhiều môn học khác nhau, cũng như ghi nhớ sâu các kiến thức từ các lĩnh vực khác nhau.
Có khả năng hệ thống hóa chuỗi kiến thức từ nhiều lĩnh vực để áp dụng vào giải quyết các vấn đề trong đời sống và học tập, từ đó tạo thêm sự hứng thú và động lực cho quá trình học tập của HS.Thực tiễn thử nghiệm dạy học tích hợp ở Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy việc xây dựng chương trình môn học tích hợp giúp HS tránh được sự trùng lặp kiến thức ở nhiều môn học, nhờ đó phù hợp với thời gian học của HS trong nhà trường, góp phần giảm tải so với chương trình hiện hành. Vì vậy, môn học tích hợp KHTN trong chương trình GDPT của Việt Nam là một sự lựa chọn phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Chương trình GDPT mới thực hiện dạy học tích hợp theo 3 định hướng: Tích hợp nội môn: tích hợp giữa các mảng kiến thức khác nhau trong cùng một môn học, tích hợp giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng; Tích hợp liên môn: tích hợp kiến thức của các môn học, khoa học có liên quan với nhau, ở mức thấp là liên hệ kiến thức được dạy với những kiến thức có liên quan trong dạy học, ở mức cao là xây dựng các môn học tích hợp;Tích hợp xuyên môn: tích hợp một số chủ đề quan trọng vào nội dung chương trình nhiều môn học. Trong việc triển khai 3 định hướng trên, điều được đặc biệt quan tâm là việc xây dựng các môn học tích hợp [24].
Theo chương trình GDPT tổng thể, cấp THCS thực hiện việc lồng ghép những nội dung liên quan của một số lĩnh vực giáo dục và một số môn học trong 11 chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp, trong đó có môn KHTN. Nội dung chính của môn KHTN là sự tích hợp của kiến thức về Vật lý, Hóa học, Sinh học và các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường THCS chỉ triển khai dạy môn KHTN riêng lẻ và dừng lại ở mức độ lồng ghép kiến thức. Việc triển khai dạy môn tích hợp KHTN đang gặp khó khăn, đặc biệt là về khả năng của các GV.
Đa số GV chưa sẵn sàng để dạy kiến thức liên môn Lý - Hóa - Sinh. Họ còn thiếu kinh nghiệm trong việc biên soạn chủ đề liên môn, năng lực chuyên môn sâu, kiến thức liên ngành rộng, và kỹ năng thiết kế dạy học theo hướng tích hợp. Sự tự tin của GV trong việc dạy học tích hợp môn KHTN và sự hợp tác giữa GV các phân môn chưa đạt được mức cao và hiệu quả. Để triển khai dạy học tích hợp môn KHTN, việc đánh giá cho thấy GV vẫn còn thiếu khả năng và tự tin trong việc dạy tích hợp các kiến thức liên ngành.
Tuy nhiên, điều khá tích cực là GV thể hiện sự đáp ứng tốt đối với việc tự học và tự nâng cao kiến thức của họ. Vì vậy, với đội ngũ này, việc bồi dưỡng kiến thức liên ngành sẽ giúp họ nâng cao khả năng dạy học tích hợp môn KHTN. Tuy nhiên, việc đánh giá cho thấy HS cũng chưa đạt được mức đáp ứng cao về khả năng tự học và áp dụng kiến thức liên ngành để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Các GV và CBL cũng không đánh giá cao khả năng tự học và khả năng áp dụng kiến thức liên môn của HS trong việc thực hiện dạy học tích hợp môn KHTN.
Hiện nay, CSVC và thiết bị của các trường cũng chưa đáp ứng được việc triển khai giảng dạy môn KHTN tích hợp. Vì vậy, cần có những giải pháp cơ bản và cần thiết như nâng cao năng lực của đội ngũ GV về dạy tích hợp môn KHTN, tạo điều kiện để HS có thể học tích hợp tốt hơn, tăng cường quản lý từ các cấp lãnh đạo cấp Trường, Phòng, Sở Giáo dục và cải thiện CSVC để việc triển khai dạy học tích hợp môn KHTN tại các trường THCS đạt hiệu quả tốt nhất. 12 Nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về việc bồi dưỡng chuyên môn và quản lý hoạt động này đối với GV. Các tác giả đều đồng tình về vai trò quan trọng của GV trong việc định hình chất lượng GD&ĐT, và họ cũng nhấn mạnh rằng quản lý chất lượng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đóng vai trò quyết định đến chất lượng của đội ngũ GV.
Bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ cho GV được coi là một giải pháp chiến lược để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong lĩnh vực giáo dục ngày nay. Dựa trên tổng quan về các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng chuyên môn cho GV và quản lý chuyên môn, có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất là, có nhiều công trình chuyên khảo, đề tài luận văn, luận án nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về bồi dưỡng GV và quản lý hoạt động bồi dưỡng. Thứ hai là, các công trình nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau về bồi dưỡng chuyên môn và quản lý bồi dưỡng chuyên môn, khẳng định tầm quan trọng của việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV, HS và chất lượng giáo dục nhà trường. Thứ ba là, các công trình nghiên cứu đã thảo luận về các biện pháp bồi dưỡng GV và quản lý hoạt động này.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến bồi dưỡng chuyên môn KHTN cho GV và quản lý bồi dưỡng chuyên môn KHTN ở các trường THCS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.