MỞ ĐẦU Thời gian gần đây, số vụ can nhiễu của các mạng đài đã được cấp phép có xu hướng gia tăng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn thông tin. Việc can nhiễu với tần suất lớn gây khó khăn cho sự hoạt động của các mạng đài và tổn thất rất lớn về mặt thời gian cũng như công sức xử lý nhiễu cho cơ quan quản lý. Có nhiều vụ can nhiễu mà nguồn can nhiễu được xác định là do các bộ khuếch đại lặp của mạng truyền hình cáp không đảm bảo tương thích điện từ trường gây ra. Các vụ can nhiễu này xảy ra trên diện rộng, mất rất nhiều thời gian và công sức để xử lý.
Để có thể chủ động trong việc xử lý can nhiễu cần có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể về khả năng gây can nhiễu của các bộ khuếch đại tín hiệu trên đối với các mạng đài Vô Tuyến Điện. Qua đó đưa ra phương pháp xác định, giải quyết và khắc phục triệt để can nhiễu. Xuất phát từ mục đích trên, từ thực tế công tác tại Trung Tâm Đo Lường – Cục Viễn Thông, cùng với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Kim Giao, em đã tìm hiểu nghiên cứu hoàn thành đề tài “Đo kiểm đánh giá can nhiễu mạng truyền hình cáp” TIEU LUAN MOI download8 : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUYỀN HÌNH CÁP 1.1 Sơ lƣợc lịch sử phát triển truyền hình cáp 1.1 Sơ lƣợc về tình hình phát triển truyền hình cáp Thuâ ̣t ngữ CATV (Cable Television) xuấ t hiê ̣n đầ u tiên vào năm 1948 tại Mỹ khi người ta thực hiê ̣n thành công hê ̣ thố ng truyề n hin ̀ h cáp hữu tuyế n. Pennsylvania là một khu vực miền núi của nước Mỹ, nơi sóng vô tuyến mặt đất không thể bao phủ tới được.
Để cung cấp tín hiệu cho khu vực thung lũng này ông John Walson đã nghĩ ra giải pháp đặt bộ antenna trên các đỉnh núi cao, sau đó tín hiệu được đưa đến các bộ lưu trữ và truyền đến từng hộ gia đình thông qua hệ thống khuếch đại và cáp đồng trục. CATV lúc đầu được hiểu là truyền hình hữu tuyến (Cable Television). Mô ̣t năm sau , cũng tại Mỹ hệ thống truyền hình anten chung (CATV – community Antenna Television ) cung cấ p dich ̣ vu ̣ thuê bao bằ ng đường truyề n vô tuyế n đã đươ ̣c tri ển khai. Từ đó , thuâ ̣t ngữ CATV đươ ̣c dùng để chỉ chung cho các hê ̣ thố ng truyề n hình cáp vô tuyế n và hữu tuyế n.
Trên khắp các thành phố nước Mỹ, rất nhiều nhà cung cấp áp dụng mô hình của John Walson để xây dựng mạng truyền hình cáp cung cấp tín hiệu truyền hình đến các hộ gia đình. Năm 1952 đã có 70 hệ thống cung cấp dịch vụ truyền hình cáp với 14000 thuê bao.Với sự trợ giúp của Milton Shapp truyền hình cáp phát triển với tốc độ nhanh chóng khắp nước Mỹ. Cuối những năm 1960 truyền hình cáp bắt đầu thể hiện nhiều ưu việt so với truyền hình vô tuyến về cả chất lượng tín hiệu và khả năng phủ sóng, trở thành một ngành công nghiệp thương mại. Năm 1964 cả nước Mỹ đã có 800 hệ thống cấp tín hiệu truyền hình cáp với 850.
Mục tiêu ban đầu của truyền hình cáp là cung cấp các chương trình quảng bá tới những khu vực do các điề u kiê ̣n khó khăn về điạ hin ̀ h không thể thu đươ ̣c bằ n g các anten thông thường , gọi là vùng lõm sóng. Song do có nhiều ưu việt, giải quyết được những vấ n đề mâu thuẫn giữa viê ̣c gia tăng kênh phát sóng với tin ̀ h tra ̣ng ca ̣n kiê ̣t tầ n số và vấ n đề can nhiễu , CATV phát triể n không chỉ ở những vùng lõm mà còn mở rộng ở những vùng có thể thu sóng tốt, dân cư đông đúc. Truyền hình cáp CATV ngày nay đã trở lên quen thuộc với nhiều quốc gia trên thế giới, phát triển song hành cùng với hệ thống truyền hình vệ tinh DTH. Có nhiều quốc gia đã phát triển cáp số thay cho cáp tương tự, và thực hiện mạng cáp quang đến tận thuê bao nhằm nâng cao chất lượng đường truyền cũng như tăng dung lượng truyền dẫn.
Hiện nay, ngoài dịch vụ truyền hình, để tận dụng đường truyền, các nhà khai thác mạng còn thực hiện cung cấp nhiều dịch vụ khác: Internet, thanh toán chuyển TIEU LUAN MOI download9 : skknchat@gmail.com tiền, truyền dữ liệu, thoại VoiP,…trên mạng cáp. Đây là hướng phát triển phù hợp với xu thế phát triển xa lộ thông tin, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng.2 Truyền hình cáp ở Việt Nam Truyền hình trả phí Pay TV bắt đầu tại Việt Nam từ năm 1993. Khởi đầu tại TPHCM là Công ty Truyền hình cáp Saigontourist (SCTV – liên doanh giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Tổng công ty Du lịch Sài Gòn). Phát triển mạng thuê bao khá nhanh là Trung tâm truyền hình cáp Đài truyền hình TPHCM (HTVC), trong vòng 5 năm hình thành số lượng khách hàng đã có trên 400.
HTVC hiện cung cấp khoảng 60 kênh trên mạng cáp và đang triển khai chương trình HD chất lượng cao. HTVC có 8 nhà đầu tư cùng khai thác và cung cấp dịch vụ trên địa bàn TPHCM. Ngoài ra, HTVC đang mở rộng cáp đến các tỉnh và thành phố lân cận. Ngày 20/09/1995, Trung tâm kỹ thuật truyền hình cáp MMDS được Đài THVN thành lập.
Năm 2000, Đài THVN thành lập Hãng Truyền hình cáp VN trên cơ sở Trung tâm truyền hình cáp MMDS. Năm 2001, Hãng Truyền hình cáp VN hợp tác với các địa phương xây dựng các Trung tâm Truyền hình cáp tại Hải Phòng, Hải Dương, thành lập các chi nhánh ở TP Hồ Chí Minh và sau đó là nhiều tỉnh thành khác trên cả nước. Ngày 24/09/2002, Đài THVN ký thoả thuận hợp tác với Tổng công ty điện lực Việt Nam xây dựng hệ thống cáp quang trên toàn quốc. Tại khu vực Hà Nội, truyền hình cáp hữu tuyến đã tăng dần số kênh, chất lượng tín hiệu ngày càng được cải thiện.
Năm 2003, Trung tâm dịch vụ kỹ thuật truyền hình cáp VN được thành lập trên cơ sở Hãng Truyền hình cáp VN, với nhiệm vụ tập trung vào dịch vụ kỹ thuật, phát triển mạng cáp và thuê bao, cung cấp dịch vụ truy cập internet cùng với các dịch vụ gia tăng khác. Việc sử dụng hệ thống cáp quang đã phát huy tác dụng tốt, tạo tiền đề cho việc mở rộng mối quan hệ hợp tác và triển khai hệ thống truyền hình cáp quy mô lớn trên toàn quốc. VCTV trở thành thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Việt Nam, tiếp tục được mở rộng thêm các chi nhánh tại Hà Nội và một số tỉnh, thành phố khác trên toàn quốc và triển khai các dự án với các gói sản phẩm công nghệ cao như: IPTV, Mobile TV, HDTV. Công ty Dịch vụ Truyền thanh – Truyền hình Hà Nội (BTS) là một trong những thương hiệu chiếm thị phần khá lớn khách hàng của truyền hình cáp.
BTS triển khai cung cấp truyền hình cáp năm 2003 và chủ yếu tập trung ở Hà Nội. Hiện tại BTS có khoảng 120.000 khách thuê bao. Việc phát triển khách thuê bao của BTS từ giai đoạn 2003-2005 bắt đầu tăng nhanh nhưng những năm gần lại đây chậm lại, phần lớn do TIEU LUAN MOI download10 : skknchat@gmail.com bão hòa về lượng khách. Hiện Hà Nội đã mở rộng địa giới hành chính nên BTS đang hy vọng sẽ phát triển thêm khách hàng ở các địa bàn mới.
Theo số liệu thống kê của Cục quản lý PTTH và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền Thông , tính đến thời điểm 9/2009, cả nước có 45 đơn vị đầu tư kinh doanh cung cấp dịch vụ truyền hình có thu phí như: Trung tâm Dịch vụ truyền hình cáp Việt Nam (VCTV), Công ty Dịch vụ Truyền thanh – Truyền hình Hà Nội (BTS), Công ty Truyền hình cáp Saigontourist (SCTV), Trung tâm Truyền hình cáp Đài Truyền hình TP.HCM (HTVC), Đài Truyền hình kỹ thuật số (VTC), Truyền hình cáp Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quy Nhơn, Huế, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau, Lâm Đồng, … Gần đây, các nhà đầu tư nước ngoài cũng đã đầu tư vào Việt Nam bằng hình thức liên doanh với các đơn vị trong nước. Đứng trước xu thế phát triển công nghệ của thế giới, các chuyên gia nhận định: Truyền hình có thu phí tại Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển mạnh và mang lại hiệu quả khá cao, làm thay đổi hình thức kỹ thuật truyền dẫn phát sóng. Truyền hình cáp đã được cung cấp tới 62 tỉnh và thành phố với khoảng hai triệu thuê bao. Chỉ có 1 tỉnh chưa có truyền hình cáp là Lai Châu do mới chia tách địa bàn hành chính.3 Truyền hình cáp trên địa bàn một số tỉnh khảo sát Năm 2001 Truyền hình cáp Việt Nam liên kết với công ty điện tử Hải Phòng triển khai truyền hình cáp trên một số quận nội thành Hải Phòng, bắt đầu mở ra dịch vụ truyền hình cáp đầu tiên trên địa bàn.
Tiếp sau đó có Trung tâm truyền hình cáp ở Thành Phố Hải Dương. Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế địa phương hiện nay ở tất cả 6 tỉnh thành phố miền Duyên Hải đều có truyền hình cáp. Nhiều công ty đã mở rộng địa bàn xuống các huyện thị như: Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Thái Bình,… Công nghệ truyền dẫn trên mạng chủ yếu vẫn là công nghệ tương tự, riêng Trung tâm truyền hình cáp của Đài PTTH Hải Phòng đang ứng dụng công nghệ số, Bảng dưới thống kê các đơn vị truyền hình cáp trên địa bàn và số thuê bao và địa bàn đã triển khai: STT Tỉnh, Tên công ty truyền hình cáp Số thuê Địa bàn đã triển thành phố bao đã khai phát triển đƣợc 1 Hải Phòng Công ty CP điện tử tin học EG 60 000 7 Quận nội thành, Thị trấn 04 TT huyện Trung tâm dịch vụ PTTH – 4000 7 quận nội thành Đài PTTH Hải Phòng 2 Quảng Công ty truyền hình cáp 20.000 Thành phố Hạ Long, TIEU LUAN MOI download11 : skknchat@gmail.com Ninh AnPha Yên Hưng, Uông Bí Công ty cổ phần Minh Trí- 6.000 Thị xã Cẩm Phả TT TH cáp Cẩm Phả TT TH cáp Hải Phòng 4.000 TP Móng Cái 3 Thái Bình Công ty CP điện tử tin học 9.000 TP Thái Bình,TT Thái Bình Đông Hưng, Vũ Thư, Tiền Hải 4 Nam Định Công ty TNHH MTV truyền 12.000 Tp Nam Định, TT Hải hình cáp Nam Định. Hậu, Xuân Trường, Giao Thuỷ, 5 Hải Dương Trung tâm THC Hải Dương 25.000 Tp Hải Dương 6 Hưng Yên Công ty TNHH truyền hình 3.000 TP Hưng Yên cáp Hưng Yên Truyền hình cáp Hải Phòng 2.000 TT Phố Nối Tổng 145.