Luận văn: Điều khiển công suất và phân bố bit cho hệ FDD-DMT đa người dùng

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu điều khiển công suất và phân bố bit tối ưu cho hệ FDD DMT đa người dùng. Giải pháp nâng cao hiệu suất truyền dẫn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2007

91
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Bảng ký hiệu viết tắt

1. CHƯƠNG 1 HỆ ĐA SÓNG MANG, ĐA NGƯỜI DÙNG

1.1. Giới thiệu

1.2. Nguyên lý của kỹ thuật điều chế đa sóng mang

1.2.1. Lịch sử phát triển

1.2.2. Nguyên tắc điều chế đa sóng mang

1.3. Tính chất của hàm cơ sở trong không gian pha (thời gian, tần số)

1.4. Các loại truyền dẫn đa sóng mang

1.5. Hiệu suất phổ của hệ điều chế đa sóng mang

2. CHƯƠNG 2 ĐIỀU KHIỂN CÔNG SUẤT, PHÂN BỐ BIT

2.1. Môi trường DSL

2.1.1. Phương pháp tần số tham chiếu (Reference Frequency Method)

2.1.2. Phương pháp chiều dài tham chiếu (Reference Length Method)

2.1.3. Phương pháp làm bằng FEXT (Equalized-FEXT Method)

2.1.4. Phương pháp nhiễu tham chiếu (Reference Noise Method)

2.2. Tối ưu cạnh tranh

2.3. Điều khiển công suất phân bố

2.3.1. Mô tả thuật toán

2.3.2. Hiệu năng hệ thống

2.4. Phân bổ bit đa người dùng

2.4.1. Phân bố công suất và bit đa người dùng

2.4.2. Thuật toán điều khiển công suất và tốc độ

3. CHƯƠNG 3 KẾT HỢP ĐIỀU KHIỂN CÔNG SUẤT VÀ PHÂN BỐ BIT CHO HỆ FDD-DMT ĐA NGƯỜI DÙNG

3.1. Phát biểu bài toán

3.2. Thuật toán lặp tốc độ chuẩn hóa

3.3. Cài đặt chương trình và sự hội tụ của thuật toán

3.4. Các kết quả mô phỏng

Kết luận chung

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Khiển Công Suất và Phân Bố Bit FDD DMT

Hiện nay, nhu cầu thông tin ngày càng cao thúc đẩy sự phát triển của truyền thông đa phương tiện trên kênh vô tuyến, đòi hỏi tốc độ và chất lượng dịch vụ ngày càng cao. Trong môi trường vô tuyến chịu nhiều ảnh hưởng (fading, di động, đa đường, chọn lọc tần số), phương pháp điều chế đa sóng mang (MCM) được sử dụng để khắc phục. Kỹ thuật truyền dẫn đa sóng mang chia luồng dữ liệu thành nhiều kênh con độc lập truyền trên nhiều sóng mang con khác nhau. Điều này mang lại ưu điểm cho cả hệ thống có dây và không dây, được ứng dụng rộng rãi. Một ưu điểm quan trọng là khả năng chống nhiễu giữa các ký hiệu (ISI) do kênh đa đường gây ra. Trong kênh chọn lọc tần số, tỷ lệ lỗi của mỗi kênh con có thể khác nhau. Đa âm rời rạc (DMT) là một sơ đồ truyền thông để khắc phục tính chọn lọc tần số. Trong hệ thống DMT, mức công suất và cấp phát bit cho mỗi kênh con được tối ưu bằng kỹ thuật rót nước (water-filling). Tuy nhiên, với những kênh có đáp ứng xung thay đổi theo thời gian, hiệu năng của DMT giảm nghiêm trọng. Mặt khác, công nghệ đường dây thuê bao số (DSL) cho phép truyền dữ liệu tốc độ cao trên đường dây điện thoại truyền thống. Do số lượng thuê bao ngày càng tăng, các đường dây thuê bao này thường được bó lại với nhau, gây nhiễu lên nhau. Điều này đặt ra thách thức về việc dung hòa giữa công suất phát và tốc độ truyền. Về mặt kỹ thuật, sự ảnh hưởng nhiễu giữa các người dùng trong một bó cáp có thể hình dung như trong một môi trường đa người dùng trong truyền thông không dây. Khác biệt là tín hiệu mã hóa trong môi trường DSL đa người dùng được truyền trên các đường dây, do đó kênh truyền có thể xem là đã biết và cố định. Do đó, có thể áp dụng kỹ thuật truyền dẫn đa sóng mang và sử dụng DMT để tránh nhiễu. Có thể thấy, do suy giảm trong các đường dây khác nhau là khác nhau, xuyên âm gây ra ở đường dây có thuê bao gần trạm trung tâm có thể lấn áp tín hiệu dữ liệu đến từ đầu dây của thuê bao ở xa trạm trung tâm. Do đó hiệu suất của mạch dài bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đường truyền của mạch ngắn. Vì vậy, các thuê bao ở gần trạm cần phải có công suất phát nhỏ hơn công suất phát của những thuê bao ở xa trạm. Việc giảm mật độ công suất hướng lên này (được gọi là UPBO) bao gồm phương pháp tần số tham chiếu, phương pháp chiều dài tham chiếu, phương pháp cân bằng FEXT, phương pháp nhiễu tham chiếu, … Tuy nhiên, các phương pháp này luôn đòi hỏi một tác nhân điều khiển trung tâm. Điều này thường khó thực hiện vì hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ nên thông thường trong một bó cáp sẽ là đường dây thuê bao của nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Để khắc phục điều này, Yu đã đưa ra một giải pháp tối ưu hơn đó là sử dụng thuật toán rót nước. Phương pháp này không những mang lại hiệu quả phân bổ công suất tốt mà còn cho phân bố năng lượng trên toàn bộ dải thông truyền dẫn.

1.1. Lịch Sử Phát Triển và Ưu Điểm Của Kỹ Thuật FDD DMT

Điều chế đa sóng mang có nguồn gốc từ những năm 50-60, ban đầu gọi là hệ truyền dẫn dữ liệu song song. Chang sử dụng kỹ thuật OFDM năm 1966. Weinstein và Ebert áp dụng phép biến đổi Fourier nhanh thuận nghịch năm 1971, giúp việc thu phát tín hiệu OFDM đơn giản và hiệu quả hơn. Hirosaki đưa ra hệ đa sóng mang số giải giới nội năm 1981. Cimini đề nghị áp dụng OFDM trong truyền thông di động năm 1985. OFDM được ứng dụng trong phát thanh quảng bá số và mạng WLAN theo chuẩn IEEE 801.11a. Trong hệ thống truyền tin có dây, điều chế đa sóng mang thường mang tên DMT, được dùng trong tiêu chuẩn cho đường dây thuê bao số tốc độ cao bất đối xứng ADSL - VDSL. Ưu điểm của kỹ thuật FDD-DMT là khả năng chống nhiễu tốt, hiệu quả trong môi trường đa đường và chọn lọc tần số.

1.2. Nguyên Lý Hoạt Động Của Điều Chế Đa Sóng Mang DMT

Hệ điều chế đa sóng mang (MCM) có sơ đồ khối cơ bản gồm các ký hiệu phức Cnk được truyền đi trong khoảng thời gian [nTs, (n+1)Ts] trên tần số sóng mang fk = kΔfc. Khoảng tần số Δfc là khoảng cách giữa 2 sóng mang cạnh nhau. Hàm g(t) là hàm hình bao tạo dạng xung. Tín hiệu đa sóng mang truyền trên kênh là v(t). Định nghĩa nhóm hàm cơ sở: nk(t) = g(t - nTs)ej2πfkt. Tín hiệu khi truyền qua kênh có hàm đáp ứng xung của kênh là h(τ, t), đồng thời thêm nhiễu Gauss n(t) cộng tính. Việc giải điều chế được thực hiện bằng cách chiếu tín hiệu thu lên thành phần liên hợp phức của các hàm cơ sở (tích vô hướng của vector cơ sở với vector tín hiệu ở nơi thu trong không gian tín hiệu). Hệ đa sóng mang có thể coi như N kênh Gauss song song. Tính chất của hàm cơ sở trong không gian pha (thời gian, tần số): Các hàm cơ sở nk(t) là những hàm khả tích dạng xung vuông, tạo nên một mạng rời rạc trong không gian pha.

II. Thách Thức và Vấn Đề Trong Hệ Thống FDD DMT Đa Người Dùng

Công nghệ đường dây thuê bao số (DSL) cho phép truyền dữ liệu tốc độ cao trên đường dây điện thoại truyền thống. Trước đây khi số lượng thuê bao ít, mỗi thuê bao được nối đến tổng đài trung tâm bằng một đường dây riêng vì thế không cần quan tâm đến đường dây của thuê bao khác. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng nhanh của các sản phẩm Công nghệ Thông tin và Truyền thông ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới hiện nay nên số lượng thuê bao sử dụng ngày càng nhiều lên. Do đó, tổng đài phải phục vụ hàng trăm nghìn thuê bao khác nhau nên các đường dây thuê bao này thường được bó lại với nhau trên cùng một đường đến tổng đài trung tâm. Các đường dây đặt cạnh nhau nên chúng tạo ra điện từ trường và gây nhiễu lên nhau. Khi tăng công suất phát thì ảnh hưởng của điện từ trường lên nhau càng trở nên mạnh mẽ nhưng nếu giảm công suất phát thì tốc độ cũng bị giảm theo. Điều này lại trở thành một thách thức mới đối với công nghệ, phải biết dung hòa giữa lượng công suất phát sao cho nhiễu là chấp nhận được và tốc độ không quá thấp. Đứng về mặt kỹ thuật, sự ảnh hưởng nhiễu giữa các người dùng trong một bó cáp có thể hình dung như trong một môi trường đa người dùng trong truyền thông không dây. Điểm khác biệt ở đây là trong môi trường DSL đa người dùng, tín hiệu mã hóa sẽ được truyền đi trên các đường dây do vậy có thể xem kênh truyền đã biết và cố định. Do đó, trong hệ thống DSL có thể áp dụng kỹ thuật truyền dẫn đa sóng mang và sử dụng DMT để tránh nhiễu. Có thể thấy, do suy giảm trong các đường dây khác nhau là khác nhau, xuyên âm gây ra ở đường dây có thuê bao gần trạm trung tâm có thể lấn áp tín hiệu dữ liệu đến từ đầu dây của thuê bao ở xa trạm trung tâm. Do đó hiệu suất của mạch dài bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đường truyền của mạch ngắn. Vì vậy, các thuê bao ở gần trạm cần phải có công suất phát nhỏ hơn công suất phát của những thuê bao ở xa trạm.

2.1. Ảnh Hưởng Của Xuyên Âm Crosstalk Trong Hệ Thống DSL

Xuyên âm (crosstalk) là một vấn đề quan trọng trong hệ thống DSL, đặc biệt khi các đường dây thuê bao được bó lại với nhau. Xuyên âm gây nhiễu điện từ trường giữa các đường dây, ảnh hưởng đến hiệu năng của hệ thống. Có hai loại xuyên âm chính: xuyên âm đầu gần (NEXT) và xuyên âm đầu cuối xa (FEXT). Trong môi trường DSL, xuyên âm ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu năng của hệ thống khi điều khiển phân bố. Điều này làm tăng hiệu ứng gần xa, tương tự như trong hệ thống không dây đa truy cập phân chia theo mã (CDMA). Trong hệ thống CDMA, người dùng gần trạm gốc sẽ hạn chế hiệu năng của người dùng ở xa nếu không được điều khiển công suất, do đó làm tăng hiệu ứng gần xa. Trong DSL, nếu mật độ phổ công suất phát của mọi người dùng ở đường lên như nhau thì FEXT từ mạch vòng thuê bao ngắn lớn hơn ở mạch dài. Xuyên âm ở mạch ngắn lớn sẽ làm giảm tốc độ dữ liệu của mạch dài. Mạch dài có tốc độ dữ liệu nhỏ hơn mạch ngắn kể cả khi không có xuyên âm do sự suy giảm trên đường truyền.

2.2. Vấn Đề Gần Xa Trong Môi Trường DSL Đa Người Dùng

Vấn đề gần - xa xảy ra khi các modem DSL ở gần nhà cung cấp dịch vụ (CO) có thể gây nhiễu lớn cho các modem ở xa CO. Điều này làm giảm hiệu năng của các modem ở xa, đặc biệt là trong hướng phát lên (upstream). Để giải quyết vấn đề này, cần có các phương pháp điều khiển công suất để giảm công suất phát của các modem ở gần CO. Các thuật toán UPBO (UpStream Power Back Off) được sử dụng để giảm công suất phát của các mạch ngắn, giúp cải thiện hiệu năng của các mạch dài. Các phương pháp UPBO bao gồm phương pháp tần số tham chiếu, phương pháp chiều dài tham chiếu, phương pháp làm bằng FEXT, phương pháp nhiễu tham chiếu. Các phương pháp này thường đòi hỏi một tác nhân điều khiển trung tâm, điều này có thể khó thực hiện trong môi trường có nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau.

III. Các Phương Pháp Điều Khiển Công Suất Tiêu Chuẩn Trong FDD DMT

Để khắc phục sự không tương thích phổ này, đường ngắn phải giảm mật độ phổ công suất phát của mình. Việc giảm mật độ phổ công suất phát đường lên gọi là UPBO, [17]. Chú ý rằng đường xuống không chịu vấn đề tương tự. Mặc dù tất cả máy phát phía CO cũng phát cùng mật độ phổ công suất như nhau, FEXT chúng tạo ra cho nhau giống nhau ở bất cứ khoảng cách cố định nào từ CO. Mức FEXT đường xuống này luôn yếu hơn tín hiệu dữ liệu vì vậy nó không gây những vấn đề nghiêm trọng cho phát đường xuống. Một vài thuật toán UPBO đã được đề xuất cho VDSL. Tất cả các phương pháp UPBO hiện nay đều chú ý làm giảm phát ra can nhiễu của các mạch ngắn bằng cách cho chúng hoạt động giống như các mạch dài hơn. Sau đây sẽ nghiên cứu một số thuật toán UPBO.

3.1. Phương Pháp Tần Số Tham Chiếu Reference Frequency Method

Phương pháp tần số tham chiếu giảm mật độ phổ công suất phát trên kênh hướng lên của một mạch vòng bằng một hệ số dọc theo dải tần số hướng lên. Mức giảm được tính toán trên từng đường dây, sẽ được đặt trước, vì thế mức PSD thu được tại các tần số tham chiếu là như nhau trên các mạch vòng tại phía trung tâm. Độ giảm mật độ phổ công suất phát trên một đường dây được tính toán bằng cách sử dụng một mức mật độ phổ công suất mong muốn ở bộ thu tại một tần số tham chiếu và modem cũng như các phép đo hàm truyền của mạch vòng sẽ cung cấp độ suy giảm tại tần số tham chiếu. Một cách để xác định PSD mong muốn nhận được tại tần số tham chiếu là sử dụng một mạch vòng tham chiếu. PSD mong muốn nhận được tại tần số tham chiếu là PSD mà có thể thu được tại tần số đó nếu như một tín hiệu được phát tại mức PSD cực đại cho phép trên mạch vòng tham chiếu. Mạch vòng tham chiếu có thể là mạch mạch dài nhất trong bó cáp hoặc có thể tương ứng với một mục tiêu nào đó của dịch vụ trong bó cáp.

3.2. Phương Pháp Chiều Dài Tham Chiếu Reference Length Method

Phương pháp chiều dài tham chiếu là một sự tổng quát của phương pháp tần số tham chiếu. Khác với phương pháp tần số tham chiếu đưa vào một PSD mong muốn tại bộ thu chỉ tại một tần số đơn, thì phương pháp chiều dài tham chiếu đặt một mức PSD phát hướng lên vì thế PSD thu được tại tất cả các tần số bằng với PSD có thể được thu nếu như một mức PSD được phát tại một mạch tham chiếu của chiều dài tham chiếu LR. Để tính toán mức PSD yêu cầu phát, PSD mong muốn nhận được và suy giảm đường truyền trong dải tần số hướng lên cần phải được biết. Khi đó, mức PSD phát hướng lên trên mạch vòng i đơn giản là mức PSD nhận được chia cho độ suy giảm của mạch vòng i.

3.3. Phương Pháp Làm Bằng FEXT Equalized FEXT Method

Phương pháp làm bằng FEXT cố gắng làm bằng mức FEXT thu được trên mỗi mạch vòng tại ONU/CO bằng cách sử dụng mô hình FEXT đã biết. Mật độ phổ công suất phát hướng lên được điều chỉnh vì thế tất cả các mạch vòng sẽ gây ra ảnh hưởng lên mỗi mạch vòng khác là như nhau. Phương pháp này tương tự như cách tiếp cận của phương pháp chiều dài tham chiếu, tuy nhiên, phương pháp làm bằng FEXT cho phép phát một mức PSD cao hơn trên các tần số thấp hơn bởi vì mức FEXT tại các tần số này là nhỏ hơn so với mức FEXT tại các tần số cao hơn. Mức PSD của một mạch vòng với chiều dài Li là: L H  f , LR  2 TxPSD  f , Li   R TxPSD0  f  Li H  f , L  2 i Để sử dụng phương pháp làm bằng FEXT, trước tiên phải chọn chiều dài tham chiếu.

IV. Tối Ưu Hóa Điều Khiển Công Suất Cạnh Tranh Trong Hệ Thống FDD DMT

Các hệ thống được thiết kế trong sự dung hoà về công suất phát giữa các người dùng nhằm đạt được một giới hạn về tốc độ truyền cực đại. Các kỹ thuật đường thuê bao số khác nhau đã được thiết lập từ hơn 10 năm trước. Ngày nay, thông thường mỗi modem DSL được thiết kế chạy độc lập với tất cả các modem khác với giả sử nhiễu trong trường hợp xấu nhất mà không quan tâm đến môi trường mạng thực tế. Vì vậy, tốc độ dữ liệu thực tế đạt được thấp hơn nhiều so với tốc độ có thể đạt được. Mặt khác, vấn đề gần – xa tăng do không xét đến topo của mạng truy cập DSL phân tán. Để giải quyết vấn đề gần – xa trong VDSL với hướng phát lên thì các modem phân bổ ở gần nhà cung cấp (CO) phải giảm công suất phát của mình. Mở rộng cho DSL là xem một bó cáp như là một kênh đa người dùng. Các phân tích cho thấy rằng hiệu năng được cải thiện đáng kể bằng cách sử dụng sự kết hợp và quá trình xử lí tín hiệu đồng thời giữa các modem trong một bó.

4.1. Lý Thuyết Trò Chơi và Cân Bằng Nash trong Điều Khiển Công Suất

Với những lý do như trên, trong luận văn này sẽ đề cập đến thủ tục điều khiển công suất phân bố mà không yêu cầu điều khiển tập trung. Mỗi đường giả sử biết hàm truyền kênh của nó và dạng nhiễu, mỗi modem DSL được phép tối ưu hiệu năng của nó một cách cục bộ. Sơ đồ điều khiển công suất tối ưu cục bộ này dẫn tới tính chất lý thuyết trò chơi (game) của kênh nhiễu, [9], [17]. Lưu ý rằng với mỗi thiết bị phát, nếu tăng công suất tại bất cứ tần số nào cũng làm tăng được tốc độ dữ liệu nhưng bên cạnh đó lại làm tăng can nhiễu sang người dùng khác. Vì vậy việc thiết kế hệ thống cần phải xem xét về mối quan hệ ràng buộc công suất phát và tốc độ dữ liệu mong muốn với các thông tin về kênh truyền và nhiễu xuyên âm đã biết. Phân bố công suất tối ưu cục bộ này là một cân bằng Nash trong trò chơi. Điểm cân bằng Nash này dễ dàng tính toán và mô tả. Và do đó thuật toán điều khiển công suất này dễ dàng thực hiện và cho hiệu quả cao so với các phương pháp trước đó: - Thuật toán điều khiển công suất có thể thực hiện một cách phân bố mà không cần tác nhân trung tâm - Không giống như các phương pháp trước đây, mức PSD của mỗi máy phát chỉ dựa vào mức tạo ra nhiễu, phương pháp phân bổ công suất mới tạo ra sự cân bằng giữa tốc độ dữ liệu lớn nhất của người dùng và sự tạo nhiễu tối thiểu.

4.2. Mô Hình Kênh Nhiễu Hai Người Dùng và Tối Ưu Hóa Công Suất

Xét kênh nhiễu hai người dùng: y1 = x1 + A2 x2 + n1 y2 = x2 + A1 x1 + n2 (2.7) Trong đó xi và yi là tín hiệu lối vào và lối ra của người dùng thứ i, A 1 và A2 là kênh nhiễu với hàm truyền của nó tương ứng là 1 ( f ) và  2 ( f ) , n1 và n2 là nhiễu trắng với mật độ phổ công suất là N1(f) và N2(f). Hai người gửi được xem là hai người chơi trong một trò chơi. Công suất phát của hai người dùng thỏa mãn điều kiện ràng buộc. Phần thưởng cho những người chơi là tốc độ dữ liệu đạt được. Với giả thiết không áp dụng có sự loại trừ nhiễu nào, khi đó các tốc độ dữ liệu đạt được là. Tại cân bằng Nash mục tiêu của mỗi người chơi là đi tìm sự tối ưu cùng với mục tiêu của các người chơi khác. Vì thế khi cố định P2(f), thì P1(f) tối ưu phải là lời giải của bài toán tối ưu sau:.

V. Thuật Toán Rót Nước Cho Phân Bố Bit và Công Suất Tối Ưu FDD DMT

Với một kênh cho trước, yêu cầu sử dụng độ rộng kênh này sao cho có hiệu quả nhất, khi công suất phát chỉ phát được một giá trị tối đa cho phép, đồng thời độ phức tạp của máy thu cũng nằm trong một giới hạn nào đó. Trong kỹ thuật đa sóng mang ta chia độ rộng kênh được phép sử dụng thành các kênh con, sao cho mỗi kênh con này gần như là lý tưởng. Với giải mã QAM và PAM, BER mục tiêu là 10 -6, giá trị gap khoảng 8. Khi BER mục tiêu là 10-7 thì gap bằng 9. Sử dụng mã hóa kênh có thể giảm giá trị của gap. Với các loại mã hóa kênh mạnh như mã hóa Turbo, có thể đạt được giá trị của gap là 0.5dB với BER mục tiêu là 10 -6. Giá trị gap 0dB là giá trị gap nhỏ nhất theo lý thuyết. Điều này yêu cầu thời gian giải mã không hạn chế. Nếu có nhiều kênh song song, dung năng kênh tổng cộng là tổng dung năng của mỗi kênh con.

5.1. Nguyên Tắc Hoạt Động và Ứng Dụng của Thuật Toán Rót Nước

Thuật toán "rót nước" là một phương pháp tối ưu hóa để phân bổ công suất và bit cho các kênh con trong hệ thống FDD-DMT. Nguyên tắc cơ bản là phân bổ công suất nhiều hơn cho các kênh có tỉ số tín hiệu trên tạp (SNR) cao hơn và ít hơn cho các kênh có SNR thấp hơn. Thuật toán này được gọi là "rót nước" vì nó tương tự như việc rót nước vào một bình có đáy không bằng phẳng. Nước sẽ tự động lấp đầy các vùng thấp trước khi tràn sang các vùng cao hơn. Trong hệ thống FDD-DMT, các vùng thấp tương ứng với các kênh có SNR cao và các vùng cao tương ứng với các kênh có SNR thấp. Thuật toán rót nước có thể được sử dụng để tối đa hóa tốc độ dữ liệu tổng cộng hoặc giảm thiểu công suất phát tổng cộng.

5.2. Thích Ứng Tốc Độ và Công Suất với Thuật Toán Rót Nước

Chúng ta đề cập đến bài toán thích nghi tốc độ cho rót nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể cố định tốc độ phát và làm cực tiểu năng lượng phát tổng cộng. Tức là chúng ta có thể làm cực tiểu năng lượng tổng cộng trong phương trình (1.59) sử dụng ràng buộc tốc độ cố định của phương trình (1. Phương pháp này được gọi là bài toán thích nghi công suất cho thuật toán rót nước và có thể giải theo một cách tương tự.

VI. Triển Vọng và Hướng Nghiên Cứu Phát Triển của FDD DMT

Trong chương này trình bày các nguyên lý chung nhất về hệ truyền dẫn đa sóng mang, nguyên lý truyền dẫn đa kênh và kỹ thuật đa âm rời rạc (DMT). Kỹ thuật truyền dẫn đa sóng mang là kỹ thuật truyền thông chia luồng dữ liệu thành một số các kênh con độc lập truyền trên nhiều sóng mang con khác nhau, trong đó kênh con có băng tần nhỏ hơn tốc độ dữ liệu tổng cộng. Hiệu suất phổ của kỹ thuật đa sóng mang bằng tổng hiệu suất phổ của các song mang con. Có thể thấy một trong những ưu điểm của kỹ thuật này là có khả năng chống lại nhiễu giữa các ký hiệu (ISI) gây ra bởi kênh đa đường khá tốt. Nếu kênh là chọn lọc tần số, tỷ lệ lỗi của mỗi kênh con có thể khác nhau. Một trong những sơ đồ truyền thông để khắc phục tính chọn lọc tần số là đa âm rời rạc (DMT) cũng được trình bày khá chi tiết trong chương này. DMT cho phép làm cực đại tốc độ bit phát khi có ràng buộc công suất hoặc làm cực tiểu công suất phát khi có ràng buộc về tốc độ bit nhờ sử dụng thuật toán “rót nước”. Nội dung chung về thuật toán “rót nước” đã được nghiên cứu trong chương này và các áp dụng cụ thể sẽ được xem xét trong chương tiếp theo.

6.1. Các Hướng Nghiên Cứu Hiện Tại và Tương Lai Về FDD DMT

Một phương pháp khác là sự cải tiến của thuật toán trên là thuật toán lặp tốc độ chuẩn hóa (NRIA). Trong đó, thực hiện điều khiển công suất, phân bổ bit thích nghi ở cả hướng đường lên và đường xuống, và tốc độ bit ban đầu được đặt là vô cùng lớn, sau mỗi vòng lặp tính toán thì tốc độ bit mục tiêu lại được tính toán lại. Thông qua mô phỏng, chúng ta thấy rằng thuật toán hội tụ nhanh và đạt được tốc độ bit như nhau như thuật toán tìm kiếm chặt cho sự phân bổ sóng mang con. Trong luận văn này sẽ tìm hiểu các phương pháp truyền dẫn đa sóng mang, hệ thống DSL cũng như các phương pháp tránh xuyên âm trong hệ thống. Cuối cùng tập trung nghiên cứu các thuật toán phân bổ công suất, phân bổ bit cho hệ thống FDD-DMT và các tiếp cận thuật toán NRIA cho hệ thống này thông qua mô phỏng MatLab 7. Các kết quả nghiên cứu và mô phỏng thêm một lần nữa khẳng định ưu điểm của thuật toán này.

6.2. Ứng Dụng Tiềm Năng của FDD DMT Trong Các Lĩnh Vực Mới

Hệ thống FDD-DMT có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm: Truyền thông tốc độ cao: FDD-DMT có thể được sử dụng để cung cấp các dịch vụ truyền thông tốc độ cao, chẳng hạn như truy cập Internet băng thông rộng, truyền video độ nét cao và trò chơi trực tuyến. Mạng gia đình: FDD-DMT có thể được sử dụng để kết nối các thiết bị trong mạng gia đình, chẳng hạn như máy tính, TV, điện thoại và thiết bị gia dụng thông minh. Mạng doanh nghiệp: FDD-DMT có thể được sử dụng để kết nối các thiết bị trong mạng doanh nghiệp, chẳng hạn như máy tính, máy chủ và thiết bị mạng.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 HỆ ĐA SÓNG MANG, ĐA NGƯỜI DÙNG 1.1 Giới thiệu Mọi hệ truyền thông đều có mục đích là làm cho tin tức truyền đi nhanh hơn, xa hơn, tin cậy hơn, rẻ hơn. Để đạt được mục đích này, người ta đã dùng rất nhiều kỹ thuật khác nhau tác động lên các khối tạo nên các hệ thông tin. Từ kỹ thuật mã hoá (mã nguồn, mã sửa và phát hiện lỗi các loại, mã bảo mật, …) đến kỹ thuật điều chế (biên độ, pha, tần số, vi sai, …) kỹ thuật làm bằng với các thuật toán như: LMS, MSE, DFE, thích nghi. Các kỹ thuật này đã được kiểm chứng về ưu điểm, nhược điểm trong hệ thông tin đơn sóng mang.

Để đạt được các yêu cầu của hệ truyền thông, người ta nghĩ có thể có một cách tiếp cận khác đó là truyền thông đa sóng mang, có nhiều ưu điểm hơn hệ truyền thông đơn sóng mang. Điều chế đa sóng mang chia dữ liệu thông tin thành nhiều kênh con song song. Tốc độ bit của mỗi kênh con nhỏ hơn nhiều tốc độ bit tổng cộng. Mỗi kênh con có thể được thiết kế để có băng tần nhỏ hơn độ rộng dải kết hợp của kênh.

Vì vậy có thể giả sử rằng mỗi kênh con là kênh fading phẳng và bộ điều chế có thể được thực hiện mà không cần bộ cân bằng. Truyền thông đa sóng mang được thực hiện trong một vài hệ thống thực tế như hệ thống quảng bá âm thanh số ở Châu Âu (DAB) và đường dây thuê bao số không đối xứng (ADSL). Các kỹ thuật truyền thông đa sóng mang sử dụng rộng rãi nhất là Coded OFDM và đa âm rời rạc (DMT) 1.2 Nguyên lý của kỹ thuật điều chế đa sóng mang 1.1 Lịch sử phát triển. Nguồn gốc của điều chế đa sóng mang hiện nay bắt nguồn từ những năm 50  60 của thế kỷ thứ XX với tên gọi là hệ truyền dẫn dữ liệu song song.

Kỹ thuật điều chế đồng bộ các sóng mang hẹp với phổ chồng nhau đã được dùng trong quân sự với các hệ cao tần kiểu Collins Kineplex , DEFT và KATHRYN, trong đó dùng tới 34 sóng mang con [18]. Năm 1966, Chang sử dụng kỹ thuật OFDM, trong đó tổ hợp các hàm trực giao có độ rộng dải giới nội bằng cách dùng các mạch lọc Nyquist kiểu cosin tăng. Các kênh hẹp được tạo ra bằng cách như vậy coi như là phẳng có khả năng chống nhiễu xung, ít ảnh hưởng ISI và ICI. Bản quyền phát minh OFDM được đăng ký vào năm 1970 [5].

Năm 1971, Weinstein và Ebert đã áp dụng phép biến đổi Fourier nhanh thuận nghịch trong việc điều chế và giải điều chế tín hiệu OFDM làm cho việc thu phát tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 hiệu đa sóng mang trở nên đơn giản, hiệu quả hơn. Việc thêm các tiền tố tuần hoàn (Cyclix prefix) giúp cho việc loại bỏ nhiễu ISI và ICI rất hiệu quả. Năm 1981, Hirosaki đưa ra một hệ đa sóng mang số giải giới nội, trong đó mở rộng việc sử dụng phép biến đổi Fourier nhanh với các mạch lọc băng gốc để đưa ra lý thuyết ghép kênh trực giao số QAM (O-QAM) và có nhiều ứng dụng trong các modem tốc độ cao, ghi âm, ghi hình chất lượng tốt [5]. Năm 1985, Cimini đề nghị áp dụng OFDM trong truyền thông với kênh thông tin di động.

Tiếp đó, OFDM cũng được đề nghị ứng dụng trong phát thanh quảng bá số với các xung chữ nhật và khoảng bảo vệ, nhờ đó biến các kênh băng rộng chọn lọc tần số thành một số lớn các kênh băng hẹp không chọn lọc tần số, ta có WOFDM dùng trong mạng WLAN theo chuẩn IEEE 801.11a tốc độ thông tin đạt tới 45Mbit/s với cách chọn sơ đồ mã hoá thích hợp, hệ thông tin vô tuyến loại này gọi là COFDM được dùng trong hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T [19]. Trong hệ thống truyền tin có dây, điều chế đa sóng mang thường mang tên điều chế đa âm rời rạc (DMT) được dùng trong tiêu chuẩn mới cho đường dây thuê bao số tốc độ cao bất đối xứng ADSL – VDSL từ 6Mbit/s đến 100 Mbit/s. Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu nhằm tăng cường khả năng kết hợp kỹ thuật đa sóng mang với các kỹ thuật khác như kết hợp giữa đa sóng mang với đa truy cập theo mã MC-CDMA, … dùng cho các kênh hướng xuống trong hệ thống thông tin di động thế hệ 1. Đồng thời, người ta cũng hướng nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật cũng như các thuật toán làm giảm bớt những nhược điểm của hệ đa sóng mang như vấn đề tỉ số công suất đỉnh trên công suất trung bình (PAR) lớn, vấn đề đồng bộ.2 Nguyên tắc điều chế đa sóng mang Về nguyên lý, một hệ điều chế đa sóng mang (MCM) có sơ đồ khối như hình 1.1 Trong đó, Cnk là các ký hiệu phức được truyền đi trong khoảng thời gian nTs  (n  1)Ts  (Ts là chu kỳ lấy mẫu) trên tần số sóng mang f k  kf c.

Khoảng tần số f c cho ta thấy là khoảng cách giữa 2 sóng mang cạnh nhau, g(t) là hàm hình bao tạo dạng xung. Tín hiệu đa sóng mang truyền trên kênh là v(t) có thể viết dưới dạng:  N 1 v(t )    Cnk g (t  nTs )e j 2f k t (1.1) n   k 0 Cách biểu diễn dưới dạng này gọi là biểu diễn dưới dạng băng gốc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Ci0 g(t) g(-t) Zi0 e j 2f0t n(t) e j 2f0t Ci1 g(t) g(-t) Zi1 …… e j 2f1t  v(t) h(t   ) z(t) e j 2f1t …… Cik g(t) g(-t) Zik …… …… e j 2fk t e j 2fk t Ci(N-1) g(t) g(-t) Zi(N-1) e j 2f N 1t e j 2f N 1t Hình 1.1 Sơ đồ khối hệ điều chế đa sóng mang Định nghĩa nhóm hàm cơ sở:  nk (t )  g (t  nTs )e j 2f t k (1.2) thì tín hiệu đa sóng mang được biểu diễn là tổ hợp tuyến tính các hàm cơ sở  nk (t ) :  N 1 v(t )    Cnk nk (t ) (1.3) n   k 0 Tín hiệu này khi truyền qua kênh có hàm đáp ứng xung của kênh là h( , t ) không bất biến theo thời gian, đồng thời thêm nhiễu Gauss n(t) cộng tính, ở nơi thu tín hiệu là z(t) có dạng: z(t )  h( , t ) * v(t )  n(t ) (1.5)  Việc giải điều chế được thực hiện bằng cách chiếu tín hiệu thu lên thành phần liên hợp phức của các hàm cơ sở (tích vô hướng của vector cơ sở với vector tín hiệu ở nơi thu trong không gian tín hiệu):  z il   z (t ) il* (t )dt (1.6)  thay giá trị của z(t) từ (1.6) ta có:   zil    (t )Cnk il* (t )dt   n(t ) il* (t )dt (1.7)  n k  TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Nếu ta cho rằng kênh là không thay đổi theo thời gian trong phạm vi thời gian bằng độ kéo dài của một ký hiệu (ví dụ kênh fading Rayleigh chậm) thì  (t )  nk là một hằng số, khi đó:    zil    nk Cnk   nk (t ) (t )dt   n(t ) il* (t )dt * il (1.8)  n k   Do tính chất trực chuẩn của các hàm cơ số: znk   nk Cnk  w nk (1.9) Kết quả này cho ta thấy, hệ đa sóng mang có thể coi như N kênh Gauss song song theo mô hình sau:  n,0 Wn ,0 Cn ,0 zn ,0  n ,1 Wn ,1 Cn ,1 zn ,1 …………….  n, N 1 Wn, N 1 Cn, N 1 zn, N 1 Hình 1.2: Mô hình N kênh Gauss song song 1.3 Tính chất của hàm cơ sở trong không gian pha (thời gian, tần số) Các hàm cơ sở  nk (t ) (với n   ,  là chỉ số thời gian, và k=[0,N-1] là chỉ số về số sóng mang) là những hàm khả tích dạng xung vuông-chúng tạo nên một mạng rời rạc trong không gian pha- không gian gồm 4 trục thời gian, một trục tần số (hình 1.3) coi là một thực thể đơn nhất.

Hàm  nk (t ) thu được từ hàm g(t) bằng cách dịch chuyển về mặt thời gian một thời khoảng nTs, và dịch chuyển về mặt tần số khoảng là k. Vì chúng được tạo nên từ một hàm có năng lượng giới nội, đơn nhất g(t) bằng cách dịch chuyển trong không gian pha (n, k) – chúng được gọi là các trạng thái kết hợp. Kết quả là nếu hàm g(t) đặt tại tâm (0,0) trong không gian pha, thì  nk (t ) sẽ có tâm ở (nTs, k. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Mạng rời rạc đại diện cho vị trí thực của các ký hiệu truyền đi trong mạng không thời gian Tâm của hàm thời gian được chuẩn hoá (có nghĩa năng lượng của nó bằng 1) được xác định theo:  tˆ   t.10)  Việc điều chế có thể coi như một cách tạo dạng xung của tín hiệu trong không gian pha, trong khi phép giải điều chế coi là việc chiếu tín hiệu ở phần thu z(t) lên mạng rời rạc (nTs, k .8) ta thu được hai tính chất quan trọng của các hàm cơ sở. * Truyền dẫn đa sóng mang đòi hỏi các hàm cở sở phải trực giao để tránh ICI và ISI. Tính chất cốt lõi này phụ thuộc vào hàm hình bao và xác định mật độ của 1 mạng  k  .Ts * Một sự định vị tốt hàm cơ sở - có nghĩa là năng lượng trải ra trong không gian pha là cực tiểu - là cần thiết để tránh cho năng lượng của ký hiệu bị “nhoè” đi qua kênh bị phân tán theo thời gian và gây ra can nhiễu các ký hiệu xung quanh. Ta sẽ xét kỹ hơn hai tính chất này: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Về tính trực giao: một hàm số không rõ ràng Trong truyền dẫn đa sóng mang, các hàm cơ sở phải trực giao (ngay cả trong trường hợp môi trường truyền không có sự phân tán) để tránh ISI và ICI.

 Điều kiện trực giao là:   (t ) (t )dt    * nk il ni kl  Với 1 n=i  ni   (1.11) 0 với n khác Viết các hàm cơ sở theo các dạng nguyên thuỷ ta có:     nk (t ) il (t )dt   g (t ) g (t  pTs )e * *  j 2 qf t c dt (1.12)   Trong đó p=n-i và q=l-k Điều này cho ta thấy phía trái của (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ