Mở đầu Hiện nay trên thế giới, việc xử lý nền đất yếu đang phổ biến khá rộng rãi. Tùy vào điều kiện về kinh tế, kỹ thuật, địa chất, khí hậu, môi trường,… mà áp dụng các phương pháp thích hợp. Sau đây là một vài phương pháp tiêu biểu: Bảng 1-1: Phân loại kỹ thuật xử lý nền Phương pháp Tên phương pháp Ghi chú luận Bao gồm phương 1. Thay thế + Phương pháp thay thế pháp nổ mìn Cố kết đất sét + Phương pháp gia tải trước không hỗ trợ thoát nước + Phương pháp gia tải trước với thoát nước đứng Hạ mực nước trong lớp cát để + Phương pháp cọc vôi đất làm khô hoặc 2.
Thoát nước + Phương pháp bơm hút chân không kết hợp gia tải tăng áp lực cố kết + Điện - Thẩm thấu có hiệu trong đất + Giếng hạ mực nước sét nằm trên lớp + Giếng sâu cát + Đá dăm/sỏi thoát nước Xử lý chống hoá lỏng + Đóng cọc + Phương pháp cọc cát nén chặt + Phương pháp đầm rung Tỉ trọng của cát 3. Nén + Đầm nặng (Phương pháp cố kết động) rời + Nổ mìn (nén chặt bằng nổ mìn) + Phương pháp tạo sốc điện 4. Gia cố hoá + Phương pháp trộn sâu (gia cố bằng trộn) Bao gồm gia cố học và điện + Bơm trộn vữa vật liệu lớp đệm hoá + Gia cố điện hoá + Phương pháp nhiệt hoá Cho xử lý tạm 5. Xử lý nhiệt + Phương pháp đông cứng thời + Tấm phủ và lưới trên bề mặt toàn bộ đất yếu Bao gồm vải địa + Gia cố đất gia cường 6.
Gia cường + Phương pháp cọc cát đầm chặt Trong trường hợp + Phương pháp trộn sâu đất dính 2 Một số hình ảnh đại diện: Hình 1.1: Phương pháp xử lý nền bằng bấc thấm kết hợp với gia tải trước Hình 1.2: Phương pháp xử lý nền bằng bấc thấm kết hợp bơm hút chân không và gia tải trước Hình 1.3: Phương pháp xử lý nền bằng cọc đất trộn xi măng 3 1. Mục tiêu nghiên cứu Phương pháp xử lý nền bằng cọc đất trộn xi măng là một phương pháp mới có tính hiệu quả cao, đồng thời thời gian thi công và đưa vào sử dụng nhanh tiết kiệm được thời gian. Vì vậy nếu nắm rõ phương pháp xử lý này sẽ vô cùng thuận lợi cho việc áp dụng vào các công trình sau này. Khi áp dụng phương pháp xử lý bằng cọc đất trộn xi măng thì vấn đề quan tâm nhiều nhất là độ lún công trình khi khai thác, cường độ đạt được trong cọc xi măng đất và sự phân bố ứng suất trên đầu cọc và đất nền xung quanh.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm những mục chính sau đây: Thu thập số liệu quan trắc từ hiện trường trong quá trình thi công và khai thác. So sánh sự khác nhau giữa ứng suất tác dụng trên đầu cọc và ứng suất tác dụng lên đất nền khi sử dụng phương pháp ALiCC. Tính toán và so sánh hệ số tập trung ứng suất giữa thiết kế và thực tế hiện trường. Tìm hiểu mô hình thích hợp cho vật liệu cọc đất xi măng, mô phỏng sự làm việc của cọc đất xi măng có sử dụng lớp phủ bề mặt (Arch action Low improvement ratio Cement Column) viết tắt là ALiCC,so sánh sự hiệu quả của phương pháp ALiCC và phương pháp sử dụng cọc CDM bằng phần mềm Plaxis 2D và 3D Foundation V2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Các giai đoạn phát triển về việc sử dụng phương pháp trộn hóa học trong việc giữ ổn định cho nền Phát triển trộn sâu bắt đầu tại Thụy Điển và Nhật Bản từ những năm 60. Phun khô dùng vôi bột chưa tôi dùng ở Nhật Bản từ những năm 70, khoảng thời gian đó trụ đất vôi cũng dùng phổ biến ở Thụy Điển.Trộn ướt dùng vữa xi măng cũng được Nhật Bản áp dụng từ nhũng năm 70. Phương pháp mới sử dụng hỗn hợp xi măng, vôi với thạch cao, tro bay, xỉ cũng đã được giới thiệu gần đây.
Kèm theo đó thì công nghệ để trộn cũng đã được cải tiến rất nhiều. Theo đề nghị của Brows (1986), ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á rất thích hợp cho việc sử dụng xi măng thay thế vôi bởi vì: Giá thành của phương pháp trộn bằng xi măng thấp hơn so với vôi. Khó bảo quản vôi sống trong điều kiện khí hậu ẩm ướt. Cường độ đạt được của xi măng cao hơn vôi khá nhiều.
Việc xử lý nền đất bằng vôi và xi măng được ứng dụng trong những khu vực rộng lớn với bề dày lớp đất yếu dày, phức tạp ( bến bãi, đường cao tốc…) nhằm gia tăng sức chịu tải cho đất nền đồng thời vấn đề giữ ổn định luôn được đảm bảo khá tốt. Chi tiết phương pháp trộn sâu Có 2 phương pháp : trộn bằng máy cơ học và trộn bằng cách phun xịt thẳng vào đất nền. Ở đây ta xét đến trộn bằng máy cơ học. Phương pháp trộn khô Sử dụng bột xi măng khô trộn với đất, dùng máy xáo tơi lên bằng cơ học ở công trường.
Có thể kết hợp thêm phụ gia nếu có. Trình tự thi công phương pháp trộn khô gồm những bước sau: Xác định vị trí sẽ trộn. Dùng đầu trộn phá tơi đất đến cao trình mũi thiết kế. Kết hợp vừa bơm xi măng vào đất vừa rút dần đầu trộn lên.
5 Dùng động cơ xoay và trộn đều đất và xi măng. Xử lý và kết thúc quá trình thi công. Máy nén khí Máy sấy Bồn chứa khí Xe tải Xi măng Silo Xi măng Nhà kiểm tra Nguồn điện Thi công trụ Hình 2.1: Sơ đồ thi công trộn khô 2. Phương pháp trộn ướt Sử dụng vữa xi măng, nước trộn với đất, dùng máy xáo tơi lên bằng cơ học ở công trường.
Có thể kết hợp thêm phụ gia nếu có. Trình tự thi công phương pháp trộn khô gồm những bước sau: Xác định vị trí sẽ trộn. Dùng đầu trộn phá tơi đất đến cao trình mũi thiết kế. Kết hợp vừa bơm xi măng và nước vào đất vừa rút dần đầu trộn lên.
Dùng động cơ xoay và trộn đều đất và xi măng. Xử lý và kết thúc quá trình thi công. Nước Xi măng Phụ gia Trộn Bồn trộn Bơm áp lực Kiểm soát độ sâu và độ quay Tạo trụ Kiểm soát lưu lượng Hình 2.2: Sơ đồ thi công trộn ướt 6 2. Các cách bố trí cọc CDM Tùy vào mục đích sử dụng mà áp dụng các cách bố trí cụ thể Theo Nagaraj (2002) thì có 4 trường hợp bố trí cọc CDM như hình dưới đây: Hình 2.3: Các cách đóng cọc CDM (Nagaraj, 2002) 2.
Khả năng chịu tải tới hạn của cọcđơn Sức chịu tải tới hạn của một cọc đơn thường dựa vào cường độ chống cắt của lớp đất xung quanh và cường độ chống cắt của của vật liệu trộn để làm cọc. Phương pháp xác định sức chịu tải cho cọc thường phụ thuộc vào ma sát hông dọc theo bề mặt cọc và sức kháng mũi, trong khi đó đối với cọc đất trộn xi măng thì sức chiu tải chủ yếu dựa vào sức kháng cắt của vật liệu trộn làm cọc. Sức chịu tải giới hạn của cọc đất trộn xi măng trong đất yếu có thể được tính dựa vào công thức sau: 𝑄𝑢𝑙𝑡,𝑠𝑜𝑖𝑙 = (𝜋𝑑𝐻𝑐𝑜𝑙 + 2.1) Trong đó: d : đường kính của cọc (m). Hcol : chiều dài cọc (m).
Cu : cường độ kháng cắt trung bình của lớp đất xung quanh. Công thức trên giả định rằng sức kháng hông bằng cường độ kháng cắt không thoát nước của lớp đất xung quanh (Cu) còn sức kháng mũi thì khoảng 9Cu. 7 Trong trường hợp tính sức chịu tải giới hạn tức thời được tính khi CDM bị phá hoại ở độ sâu z theo công thức: 𝑄𝑢𝑙𝑡,𝑐𝑜𝑙 = 𝐴𝑐𝑜𝑙 (3.2) Trong đó: Ccol : lực dính của CDM. σh : tổng áp lực hông tác dụng lên CDM ở mặt cắt giới hạn.
Công thức trên giả thiết rằng với góc ma sát trong của đất là 300 và σh = σv + 5Cu, với σv là tổng ứng suất của lớp phủ bên trên. Trường hợp tính sức chịu tải giới hạn lâu dài thì giá trị của nó sẽ nhỏ hơn so với sức chịu tải cực hạn tức thời do xảy ra hiện tượng từ biến. Cường độ do từ biến Qcreep,col chiếm từ 65%-85% của Qult,col.4: Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng trong cọc CDM (Brom, 1984) 2. Tổng lún của cọc CDM Tổng độ lún của cọc CDM đưa ra bởi Broms (1984) được minh họa bởi hình sau: 8 Hình 2.5: Tính toán độ lún của CDM khi không xét đến từ biến (Brom, 1984) Tổng độ lún lớn nhất chính là độ lún của Δh1 và độ lún Δh2 (độ lún của đất bên dưới CDM).
Cả 2 trường hợp đều được nghiên cứu cụ thể. Trong trường hợp thứ nhất (trường hợp A) áp lực yêu cầu tác dụng nhỏ và không xét đến từ biến trong cọc. Trong trường hợp thứ hai (trường hợp B) áp lực tác dụng lớn và có xét cả yếu tố từ biến trong cọc Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng độ lún của cọc và đất nền giữa các cọc có độ biến dạng tương đương. Tuy nhiên nó cũng chỉ ra rằng biến dạng theo phương đứng của đất xung quanh cọc giống như là độ lún của lớp mặt hơn là độ lún của hệ cọc.
Sự khác nhau tuy không lớn chỉ khoảng vài phần trăm. Ứng suất tác dụng lên công trình sẽ dựa vào sức kháng nén của cọc và đất nền 𝑄𝑐𝑜𝑙 𝑞 𝜎𝑐𝑜𝑙 = = 𝑀 (2.3) 𝐴𝑐𝑜𝑙 𝑎+( 𝑠𝑜𝑖𝑙 )(1−𝑎) 𝑀𝑐𝑜𝑙 Trong đó: σcol: ứng suất tác dụng lên đầu cọc. q: áp lực tác dụng trung bình. a: tỉ diện tích thay thế của cọc = (NAcol/BL), với NAcol là số lượng cọc và tiết diện 1 cọc.
BL : diện tích vùng xử lý. 9 Msoil : giá trị kháng nén của đất xung quanh. Mcol: giá trị kháng nén của cọc CDM. Xét trường hợp A, độ cứng của cọc được xem xét dưới tác dụng của lực phân bố lên cọc và đất nền xung quanh.
Mối quan hệ giữa Mcol = 50 ÷ 100 Ccol thường được sử dụng để dự báo độ lún, tuy nhiên có thể xác định Mcol từ thí nghiệm nén không nở hông. Giá trị Mcol thường nằm trong khoảng 15 ÷ 25 MPa. Ứng suất trung bình dọc trục của cọc có thể được tính theo công thức (M = Δσ/Δε). Đối với đất cố kết trước và áp lực tiền cố kết không được xét đến thì Mcol = 250 Cu (với Cu là cường độ kháng cắt không thoát nước được xác định bằng thí nghiệm cắt cánh) Độ gia tăng ứng suất được phân ra làm hai là: q1(của cọc) và q2(của đất nền).
Ta có mối quan hệ : 𝑞1 (𝐵𝐿) 2 𝑞 (𝐵𝐿) = (𝐵𝐿−𝑁𝐴 (2.