Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VE KHU VỰC NGHIÊN CỨU Khái quát chung về bồn trũng Cửu Long Vị trí địa lý, kinh tế Bề Cửu Long nam ở phía Đông Nam của thêm lục địa Việt Nam với hình thái cau trúc có dang oval lớn, sụt lún trong Kainozoi và bao quanh là các đới nhô cao Mezozoi, trầm tích bên trong của bé bao gồm chủ yếu là các thành tạo lục nguyên thô và mịn có tuổi từ Eocen — Oligocen sớm cho đến Pliocen- Đệ tứ, chiều dày Kainozoi nơi dày nhất gần 7000m Phía Tay của bé được bao quanh bởi đường bờ từ Cá Ná — Phan Thiết, Vũng Tau đến Bạc Liêu — Cà Mau Phía Nam và Đông Nam ngăn cách với bể trầm tích Nam Côn Sơn là một đới nâng ngâm Côn Sơn (Con Son Swell) chạy dọc theo các đảo nhô cao hiện tại như Hòn Khoai, Hòn Trứng — Côn Sơn Đây là một bé trầm tích có diện tích không lớn lắm, khoảng hon 36.000 km” bao trùm các lô 09, 15, 16, L7 và một phan cua các 16 01,02 va 25 1.2 Điều kiện tự nhiên : Độ sâu đáy biến hiện tại không vượt quá 50 m nước, một điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí. Khí hậu vùng mỏ là nhiệt đới gió mùa gồm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười, là mùa gió Tây Nam. Thời gian mưa trong ngày thường không kéo dài nhưng lớn và kèm theo gió giật đạt tốc độ 25m/ giây.
Nhiệt độ không khí từ 25 + 32°C, độ âm không khí khoảng 87 + 89 %. Mùa khô kéo dài từ tháng mười một đến tháng tư, là mùa gió Đông Bac với tốc độ có thé đạt đến 20m/s. Nhiệt độ không khí từ 25 + 30 °C SVTH: Lý Nhật Truong Trang | Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Văn Xuân Tốc độ dòng chảy ở độ sâu 15++20m đạt 85 cm/giây, lớp nước gần đáy đạt 20+30 cm/giây. Nhiệt độ nước biến trong năm thay đổi từ 25+30°C.
Độ mặn nước biến thay đối từ 33+35 g/l. Chiều sâu nước biến trong vùng mỏ khoảng 50m nên có thé sử dụng được các giàn khoan tự nâng. Mức địa chan ở vùng mỏ không vượt quá 6 độ Richter. Việc vận chuyên hàng hóa nặng từ cơ sở sản xuât đên mỏ được thực hiện băng tàu biên.
Hàng hóa, vật liệu nhẹ và nhân viên được vận chuyên băng máy bay trực thăng từ sân bay Vũng Tàu. Thời gian thuận lợi cho các hoạt động trên biên là giai đoạn gió mùa đông nam từ tháng 6 tới tháng 9 cũng như thời kỳ chuyển mùa trong tháng tư, năm và mười một. Nguồn năng lượng phục vụ cho các giàn là các động cơ điện đặt trên giàn, phục vụ cho cơ sở sản xuất của xí nghiệp trên bờ là đường điện 35kV dẫn từ trạm điện thành phố Hồ Chí Minh và từ nhà máy điện khí Bà Rịa và Phú Mỹ.3 Đặc điểm địa chất dầu khí A. Địa tầng trầm tích Móng của bể Cửu Long được tạo nên bởi đá tuổi Mesozoi và các thé đá xâm nhập granitoid tuổi J-Cr.
Lớp phủ trầm tích Kainôzôi có bề dày 6-8km và giảm dan theo hướng cánh của bề. Mong trước Đệ tam Đá móng không đồng nhất và có tuổi khác nhau: Đá móng granitoid có tuổi Jura — Creta đến Trias xuất hiện khá pho biến ở phan lớn các lô. Dia tang trầm tích Dé tam Hệ Paleogen - Thong Eoxen Hệ tang Ca Cối (E ,’ cc) Mặt cắt chuẩn của hệ tang Cà Cối được mô tả va định danh tại giếng khoan Cửu Long 1, làng Cà Cối, Huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh thuộc đồng băng Nam Bộ trong khoảng độ sâu 1220-2100 m. Tram tích của hệ tầng chủ yếu gồm các đá vụn thô, màu xám trang, nâu đỏ, đỏ tím: cuội kết, sạn kết, cát kết hạt trung thô đến rất thô chứa cuội sạn và ít lớp sét kết.
Các tram tích này nằm bất chỉnh hợp trên móng phun trào (andesit và tuf andesit) có tuổi trước Kainozoi, và được thành tạo trong môi trường lục địa (deluvi, proluvi, alluvi.) trong SVTH: Lý Nhật Truong Trang 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Văn Xuân điều kiện năng lượng cao của thời ky đầu sụt lún, tách giãn hình thành các địa hào, diện phân bố của các thành tao này chac chan chi giới hạn tại sườn cua một số hồ sụt sâu của bể Cửu Long. Bé dày của hệ tang tại giếng khoan Cửu Long là 880m. Nhìn chung mặt cắt địa chan từ đất liền ra phía đông của bé gồm 2 phan: e Phan trên có phản xạ hôn độn hoặc dạng vòm, biên độ cao, tân sô thap, độ liên tục kém đến tốt. e Phần dưới phản xạ không phan di, lộn xộn, biên độ cao, tần số thấp, độ liên tục kém, trâm tích alluvi, đầm hô.
Tại một số nơi có thé như ở khoan 09-S6i-1X, từ độ sâu 2941-3280m cũng phát hiện một tập cuội kết, sạn kết và cát kết hạt thô dạng khối dày tới 339m phủ bất chỉnh hợp trực tiếp trên đá móng granitoid tuôi Jura. Theo tài liệu địa chan, trầm tích của hệ tang Cà Cối phủ bat chỉnh hợp trên các thành tạo trước Đệ tam. Bê dày hệ tầng ở khu vực cửa sông Hậu khoảng 1000m, ở trung tâm của bể có thé dày hơn. Chúng chỉ phân bố hạn chế trong các lõm sụt sâu nên ít khi khoan bắt ~ sap.
Hệ Paleogen -Théng Oligocen Hệ tang Trà Cú (E ;' tc) Trầm tích thuộc hệ tầng Trà Cú năm phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Cà Cối và được mô tả tại giếng khoan CL-1 thuộc vùng Cà Cối, huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh. Tại day, từ độ sâu 1082 m - 1220 m tram tích đặc trưng bằng sự xen kẽ giữa cát, sỏi kết xen với những lớp bột sét chứa cuội, sạn, sol. Tram tích của hệ tang này gồm da phan là các lớp đá sét kết giàu vật chất hữu cơ, sét chứa nhiễu vụn thực vật và sét chứa than (chiếm khoảng 60-90% mặt cat) đôi khi có mặt các lớp than màu đen, tương đối ran chắc. Tập sét này nhiều nơi phủ trực tiếp lên móng (vòm trung tâm mỏ Bạch Hồ, Rang Đông) va đóng vai trò là một tang chắn địa phương cho các vỉa chứa dau trong đá móng ở mỏ Bạch Hỗ, TN Rồng, Rang Đông.
Tram tích hệ tang Trà Cú được hình thành trong điều kiện tướng đá môi trường tram SVTH: Lý Nhật Truong Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Văn Xuân tích khác nhau từ sườn tích, lũ tích, bồi tích, sông, kênh lạch đến đầm hồ, vũng vịnh. Các trầm tích sét màu xám đen giàu vật chất hữu cơ và các trầm tích thực vật thuộc tướng đầm hỗ, vũng vịnh xen kẽ ít cát bột kết tướng bôi tích đồng bằng châu thổ phân bố chủ yếu tại các trũng sâu, đặc biệt là ở hai bên cánh phía Tây bac và Đông nam của đới nâng Rồng- Bạch Hồ và phân lớn thuộc lô 15. Các tập sét này là các tang sinh dau rất có ý nghĩa của bể Cửu Long. Hệ tầng Trà Cú có chiều dày được phát hiện theo GK thay đổi từ 100- 500m ở các vòm nâng, còn ở các tring địa hao nó đạt tới trên 1000 m.
Hệ Paleogen - Thong Oligocen Hệ tang Trà Tân ( E; tt) Tại đây, trâm tích chủ yêu là cát kêt hạt nhỏ đên trung màu xám trăng, xi măng carbonat chuyên dân lên trên nhiêu lớp bột và sét kêt màu nâu và đen có xen các lớp mỏng than, có chỗ phát hiện thay glauconit. Đá biến đối ở giai đoạn katagenes muộn. Đường cong carota có điện trở rat cao ở phân dưới và thâp ở phan trên còn đường gamma thì ngược lại. Bé dày của hệ tang ở giếng khoan này đạt 503m Tram tích hệ tang Trà Tân phân bồ rộng rãi hơn so với hệ tang Trà Cú và với bề dày thay đối khá mạnh mẽ ở tại các khu vực khác nhau của bề.
Lat cat trầm tích tầng Trà Tân có sự xen kẽ giữa sét kết (chiếm 40-70% mặt cat, đặc biệt là các lô phan DB của bê) và bột kết, cát kết và ở nhiều nơi đã xuất hiện các lớp đá phun trào núi lửa có thành phần khác nhau. Nhiều lớp sét có chứa vôi, vật chất hữu cơ, các vụn than hoặc xen kẽ các lớp than lignit và chúng đóng vai trò của tầng sinh dau tốt Trầm tích Trà Tân được tạo thành trong điều kiện tướng đá môi trường không giống nhau giữa các khu vực: từ điều kiện sông bồi tích, đồng bang châu thô, dam lây vũng vịnh đên xen kẽ các pha biên nồng. Các trầm tích chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ và các tan tích thực vật thuộc tướng đầm h6, đầm lay vũng vịnh chiụ ảnh hưởng của biến ở các mức độ khác nhau phát triển tương đối rộng rãi trong hầu hết khu vực, đặc biệt là từ phan trung tâm của bề kéo dài về phía DB, nơi ảnh hưởng của môi trường biển ngày một tăng lên. Trong khi đó tỷ lệ cát SVTH: Lý Nhật Truong Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Văn Xuân chiếm ưu thế, xen kẽ sét, bột thuôc môi trường bồi tích, sông, đồng bang châu thổ gặp tương đối phố biến tại khu vực đới nâng Trung Tâm (câu tao Bạch Hỗ va DN Rồng) và phan nhiều lô 16, 17 ria bac và phan TB của bé.
Tram tích của hệ tang Trà Tân có chiều dày quan sát theo GK thay đổi từ 400 - 800m, còn ở các nơi trũng có thé đạt đến 1500m). Hệ Neogen - Thống Miocen - Phụ thong Miocen dưới Hệ tang Bạch Hồ (N/' bh) Hệ tang Bạch Hồ được mô tả và lấy theo tên của giếng khoan Bạch Hỗ | do công ty Mobil khoan 1974. Do ranh giới trên của hệ tang là ranh giới giữa 2 tập sét: tập sét ở dưới (hệ tầng Bạch Hồ) và sét Rotalia ở trên. Sét Rotalia năm ở cuối Miocen sớm - đầu Miocen giữa nên cũng có thé xếp vào phân trên cùng của Miocen sớm, do đó chúng tôi đã xếp tập sét Rotalia vào phan trên cùng của hệ tang Bach Hỗ.
Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Bạch Hồ được mô tả tại giếng khoan BHI từ độ sâu 2037 - 2960m, bao gdm 2 phan: e Phan dưới chu yêu là sét, cát kêt phân lớp mong màu xám đen, xám xanh, hàm lượng cát tăng dân và xen các lớp bột kêt màu xám, màu nâu. e Phan trên chủ yếu là sét màu xám nâu chuyển dan lên sét màu xám xanh, đồng nhất chứa hoá đá động vật biển nhóm Rotalia nên gọi là sét Rotalia (chủ yếu là Ammonia kích thước 1/10 mm). Bé dày của hệ tang ở giếng khoan BHI đạt khoảng 923 m.