Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Chương 2. Phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về việc thực thi chính sách bảo trợ đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Hệ thống ASXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo phát triển ổn định của mỗi quốc gia. Thực tế, có nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến an sinh xã hội trên những khía cạnh khác nhau, trên cả lý thuyết lẫn mô hình thực nghiệm.
Có thể khái quát một số nghiên cứu của nước ngoài về trẻ em như sau: - Jenson, Jeffrey M. Social policy for children and families: A risk and resilience perspective. Đề tài nghiên cứu những rủi ro và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách bảo trợ xã hội đối với trẻ em được nuôi dưỡng tại các hộ gia đình. "The impact of trafficking on children: Psychological and social policy perspectives." Child development perspectives 2.1 (2008): Tác giả đã nêu được những góc nhìn về nạn buôn bán trẻ em và bóc lột tình dục vì mục đích thương mại (CSE) là tội ác nghiêm trọng, hình thức ngược đãi trẻ em cực đoan và vi phạm nghiêm trọng quyền con người của trẻ em.
Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan về tác động của nạn buôn người và CSE đối với trẻ em và ý nghĩa thực tiễn của các nghiên cứu liên quan trong lĩnh vực ngược đãi trẻ em và nạn nhân hóa. Các phát hiện cho thấy rằng nạn buôn người và CSE gây ra những rủi ro nghiêm trọng đối với sự phát triển về thể chất, tâm lý, tinh thần và xã hội tình cảm của các nạn nhân trẻ tuổi. Tác giả cũng đề cập đến ý nghĩa đối với tâm lý học và chính sách xã hội về phòng ngừa và phục hồi tâm lý xã hội cho trẻ em là nạn nhân. Tình hình nghiên cứu trong nước Cho đến thời điểm hiện tại có rất nhiều các công trình nghiên cứu về trẻ em dưới nhiều góc độ bao gồm các công trình như: Sách, giáo trình, luận án, luận văn, bài báo, tạp chí.Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề dưới góc độ tiếp cận như sau: 5 - Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách công – Cơ sở lý luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề về chính sách công như: Lý thuyết chính sách công; các công trình nghiên cứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công. - Vụ pháp chế, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Unicef (2009), “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”. Các tác giả đã rà soát, đánh giá các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến trẻ em Việt Nam, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sánh các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hòa nhập với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế. - Nguyễn Hữu Quân.
"Một vài nhìn nhận về hệ thống chính sách trợ giúp xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Bài nghiên cứu phân tích, làm rõ những kiến thức lý luận về thực tiễn một cách có hệ thống qua các chính sách trợ cấp, chăm sóc y tế, hỗ trợ giáo dục, đồng thời nêu lên những thành tựu đạt được, cũng như những khó khăn hạn chế về hệ thống chính sách trợ giúp chính sách xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị để khắc phục những hạn chế tuy nhiên chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể. - Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải, Cục trưởng Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, “Hoàn thiện chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”, bài báo đăng trên trang Wed của Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội năm 2012. Tác giả có cái nhìn Tổng quan về chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam và đưa ra một số biện pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đề tài “Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh” (2014). Tác giả đề cập đến thực trạng của việc ban hành và thực thi chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân; Đề xuất kiến nghị thực thi chính sách, nhằm quản lý và thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 6 - Đề tài “ Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” của Tăng Thị Thu Trang (2016), đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về các quyền của trẻ em nói chung và một số quyền đặc thù đối với một số nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phân tích mối quan hệ biện chứng và sự cần thiết khách quan của việc đảm bảo các quyền của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bằng những biện pháp cụ thể trong đó có nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể; đổi mới, hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em có HCĐB; quy định rõ vi trò, trách nhiệm, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, thiết chế xã hội trong việc bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB, trong đó nhấn mạnh vai trò của gia đình, nhà trường và thiết lập hay mở rộng hợp tác quốc tế và vấn đề bảo đảm quyền trẻ em có HCĐB. Khoảng trống nghiên cứu Qua việc tìm hiểu những đề tài nghiên cứu liên quan đến đề tài cả trong và ngoài nước, mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em, trẻ em có HCĐB, trong số đó cũng có đề tài nghiên cứu chỉ ra những hạn chế, yếu kém và đưa ra đề xuất kiến nghị thực thi chính sách bảo trợ trẻ em có HCĐB một cách tốt hơn nhưng cũng chỉ giới hạn trong một khía cạnh, một địa bàn, chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống đến thực thi chính sách bảo trợ đối với trẻ em có HCĐB ở thành phố Hà Nội, do đó đề tài luận văn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác.
Cở sở lý luận 1. Các khái niệm (1) Khái niệm về chính sách công a. Khái niệm Có rất nhiều cách tiếp cận để đưa ra những khái niệm về Chính sách công dưới góc độ quản lý, chính trị hay hành chính. Chúng ta có thể tiếp cận khái niệm này từ một số các quan điểm sau: Chính sách trong tiếng Anh là Policy.
Chính sách là những hướng dẫn, phương pháp, thủ tục, luật lệ, biểu mẫu cụ thể và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy công việc hướng tới các mục tiêu đề ra. Chính sách công là chính sách có bản chất thuộc về chính trị. Quá trình ra 7 quyết định chính sách là một quá trình chính trị. Nhưng sản phẩm của quá trình hoạch định chính sách thì dễ nhận thấy hơn, ví dụ như các quy định cụ thể, chi tiết của pháp luật, và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội, đến sinh kế của mỗi người.
Vì thế, bạn có lý do chính đáng để nên quan tâm tìm hiểu về chính sách. Chính sách công được làm ra bởi nhà nước. Điều này có nghĩa nhà nước là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành chính sách công, với những nguồn lực công để đảm bảo chính sách được làm ra theo cách tốt nhất có thể, và thực thi sao cho hiệu lực, hiệu quả. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) định nghĩa về chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền.
03 nội hàm cơ bản của chính sách công là vấn đề chính sách và mục tiêu chính sách, các giải pháp và công cụ chính sách. Bản chất chính sách công là thái độ chính trị của Đảng cầm quyền. Chính sách công được coi là sản phẩm của quá trình chính trị, nhưng chính sách công là sản phẩm của chính nó bởi nó có vấn đề chính sách. Đặc điểm chính sách công: Chính sách công luôn mang tính chất thực tiễn, tính chất đa ngành liên ngành, xuyên ngành và tính chuẩn tắc.
Phân loại cơ bản theo chính sách công chuyên ngành, chính sách bị động và chủ động, chính sách quốc tế - quốc gia - vùng - địa phương. Vai trò của chính sách công Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân. Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước. Ngoài ra, chính sách công còn có các vai trò cụ thể sau: Thứ nhất, chính sách công định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội, 8 Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn.
Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội.