CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TONG QUAN VE CHAT LƯỢNG TÍN DỤNG NGAN HAN Ở chương này tác giả chủ yếu đi sâu vào đề cập tới cơ sở lý luận về tín dụng ngắn hạn và chất lượng tín dụng ngắn hạn. Tín dụng ngắn hạn 1. Định nghĩa về tín dụng ngắn hạn Ở mỗi quốc gia, thời hạn để xác định khoản tín dụng ngăn hạn là khác nhau. Ở Mĩ người ta quan niệm những khoản tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn dưới 3 năm.
Ở Việt Nam theo quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời song. Thời hạn đối với tin dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phủ hợp với quy chế sản xuất, kinh doanh và khả năng trả ng của khách hang. Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn - Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn. Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dưới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thường không cao. Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thé lường trước của nền kinh tế như các khoản tin dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh. đồng thời khoản vay thường duoc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
- Lãi suất thấp: lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí người đi vay trả cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của người khác. Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tương ứng. - Hình thức tín dụng phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của khách hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các ngân hàng thương mại không ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu.
Tín dụng ngắn hạn. Phạm vi áp dụng Bên cho vay: Các tổ chức tín dụng (chủ yếu là các NHTM) được thành lập và thực hiện nghiệp vụ cho vay theo quy định của các tô chức tin dụng (đã được sửa đổi bồ sung năm 2004), đã được cấp giấy phép hoạt động trên toan lãnh thổ Việt Nam đều được cho vay ngắn hạn. Trường hợp cho vay bằng ngoại tệ phải được phép hoạt động ngoại hối của NHNNVN. Bên đi vay: Là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội có nhu cầu vay vốn gồm: Các pháp nhân và cá nhân Việt Nam.
Các pháp nhân là : DNNN, công ty TNHH, công ty cô phần, hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tô chức khác có đủ các điều kiện quy định tai điều 94 bộ luật dân sự. Đối tượng cho vay Giá trị vat tư, hàng hoá (kê cả thuế giá trị gia tăng) và các khoản chi phi để thực hiện các phưong án sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống. Các đối tượng không cho vay bao gồm: Số tiền thuế phải nộp trực tiếp cho ngân sách Nhà nước (trừ thuế xuất nhập khẩu nói trên). Số tiền để trả gốc lãi cho tô chức tín dụng khác.
Số lãi vay phải trả cho chính tô chức tín dụng cho vay vốn. Lãi suất cho vay do ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn thoả thuận và ghi vào hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc và điều kiện cho vay ngắn hạn Nguyên tắc của cho vay: Khách hàng vay vốn của NHTM phải đảm bảo: Sử dụng vốn vay đúng mục dich đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Hoàn trả nợ lãi và gốc vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
Nguyên tắc này dé ra nhằm dam bảo cho các NHTM tôn tại và hoạt động một cách bình thường. Bởi vì nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. Đó là một bộ phận tai sản của các chủ sở hữu ma Ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng Ngân hàng cũng có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà họ yêu cầu. Điều kiện vay vốn: Khách hàng vay vốn phải đủ các điều kiện sau: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dan sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân Việt Nam. Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự. Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật năng lực hành vi dan sự. Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp nhân và dân sự và năng lực hành vi và dân sự theo quy định của đất nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định. Mục đích của sử dụng vốn vay hợp pháp. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết.
Có dự án đầu tư phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư, phương án thực hiện khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và hướng dẫn của NHNNVN. Những nhu cau vốn không dwoc cho vay NHTM không được cho vay các điều kiện sau: - Dé mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cắm mua bán, chuyên nhượng, chuyền đồi. - Dé thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cắm, việc đảo nợ, các tổ chức tin dụng thực hiện theo quy định riêng của NHNNVN.
Những trường hợp không được cho vay và hạn chế cho vay - Những trường hợp không được cho vay: (theo điều 126 Luật các Ngân hàng năm 2010). Ngân hàng không được cho khách hàng vay đối với khách hàng trong những trường hợp sau: - Thành viên Hội đồng quan trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (GD), Phó TGD, PGD của tổ chức tin dụng. - Cán bộ, nhân viên của chính Ngân hàng đó thực hiện các nhiệm vụ thâm định, quyết định cho vay. - Bố mẹ, vợ chồng, con thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, TGD (GD), PTGD (PGB).
Han ché cho vay Theo điều 127 luật các Ngân hang năm 2010, những đối tượng sau đây hạn chế cho vay không có đảm bảo, cho vay với những điều kiện không yêu đãi về lãi suất, về mức cho vay với các đối tượng. - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau đây: - Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tô chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; - Kế toán trưởng của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài; - Cô đông lớn, cô đông sáng lập; - Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; - Người thấm định, xét duyệt cap tín dụng: - Các công ty con, công ty liên kết của Ngân hànghoặc doanh nghiệp mà Ngân hang nắm quyền kiểm soát. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tin dụng, chi nhánh ngân hang nước ngoài. Việc cấp tín dụng đối với những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của Ngân hàngthông qua và công khai trong tổ chức tín dụng.
Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều này không được vượt quá 10% von tự có của tổ chức tin dụng; đối với tất cả các đối tượng quy định tại điểm e khoản 1 Điều này không được vượt quá 20% vốn tự có của tô chức tín dụng. Thời hạn cho vay - Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay giữa các tô chức cho vay khách hàng. - Tổ chức cho vay và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tô chức cho vay để thoả thuận về thời hạn cho vay. Đối với pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn còn lại của quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam, đối với cá nhân nước ngoài thời hạn cho vay không vựơt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam.
Nếu căn cứ vào thời hạn cho vay thì cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Vai trò của tín dụng ngắn hạn - Tín dụng ngắn hạn bé sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.