Chương 1 TONG QUAN 1. Đặc điểm giống bò sữa Giống bò sữa Holstein Friesian (HF) có nguồn gốc từ Hà Lan là con lai bò Batavian và Friezians (bò đen và trắng) được phối giống và loại thải qua quá trình tiến hoá di truyền tạo thành giống bò sữa trắng đen năng suất cao. Đây là giống bò lấy sữa chủ lực của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc điểm mau lông chủ yếu trăng đen nhưng vẫn có con lang trắng đỏ, tầm vóc lớn, thân hình chắc chắn, bầu vú phát triển, hiền lành, khả năng sinh sản cao và khả năng sản xuất sữa rất cao.
Quá trình nhân giống bò sữa Holstein Friesian chỉ tập trung vào sản lượng sữa dẫn đến sự suy giảm các đặc điểm chức năng, đặc biệt là khả năng sinh sản (Royal và ctv, 2000). Giống bò sữa HF chịu nóng kém nên chỉ phù hợp nuôi ở môi trường có nhiệt độ mát mẻ, quanh năm dưới 21 độ C. Giống bò sữa Jersey có nguồn gốc ở từ đảo Jersey, Vương quốc Anh. Đây là giống bò nồi tiếng trên thế giới về sản xuất sữa có hàm lượng chất béo cao.
Đặc điểm màu lông vàng sáng/ sậm, lang trắng ở vùng bụng, chân hoặc đầu. Giống bò sữa này có ngoại hình đẹp, kích thước nhỏ, phần vai cao và dài, lưng rộng, đuôi nhỏ, mông đài và phăng, bụng to, trong, bốn chân mảnh, bầu vú phát triển tốt ở cả phía trước và phía sau. Khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nguồn thức ăn chất lượng thấp, không ổn định. Bò sữa Jersey có khả năng sinh sản cao, dé nuôi, hiền và khả năng thích ứng với nhiều loại thức ăn, ké cả các loại thức ăn chat lượng thấp.
Việc lai giống từ nhiều giống và trên nhiều môi trường sản xuất khác nhau có lợi ích về năng suất (Buekley và ctv, 2014). Trong chương trình lai tạo thì giống Jersey có sự quan tâm đặc biệt do khả năng cải thiện thành phần sữa (Aikman và ctv, 2008). Bò sữa Jersey có thể chịu nóng tốt hơn bò HF nên được dùng dé lai tạo nhằm tăng tỉ lệ sữa, giúp bò thích nghỉ tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới 4m. Giống Holstein Friesian x Jersey (HF x JS) có sản lượng sữa thấp hơn, chất lượng sữa cao hơn so với giống HF thuần chủng (Coffey và ctv, 2017)).
Ngoài ra, Heins và ctv (2008a) đã báo cáo tỷ lệ thụ thai cao hơn ở bò JS trong lần phối giống đầu tiên so với bò HF thuần chủng. Sự nhai lại của bò sữa 1. Đặc điểm của sự nhai lại Nhai lai là quá trình ợ thức ăn từ dạ có lên miệng va nhai lại, nước bọt được tiết ra trong quá trình nhai lại và sau đó thức ăn được di chuyên vào lại da cỏ. Hoạt động nhai lại có vai trò tái nghiền làm giảm kích thước thức ăn thô để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lên men của vi sinh vật ở da cỏ và sự di chuyên thức ăn từ da cỏ vào ruột non (Sjaastad, va ctv, 2003).
Hoạt động nhai trong quá trình nhai lại trên bò kích thích tuyến nước bọt tiết nhiều nước bọt, bôi trơn thực quản tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuốt. Mặt khác, nước bọt cũng chứa nồng độ cao chất đệm bicarbonate va phosphate giúp duy trì độ pH ở mức cố định 5,5 — 6,5 thích hợp cho hoạt động của vi sinh vat trong da cỏ (Ruckebusch, 1993). Hoạt động nhai lại chủ yếu xảy ra trong thời gian nghỉ ngơi (Lindgren, 2009). Ngoài ra, theo nghiên cứu của Beauchemin (1991) cũng ghi nhận hoạt động nhai lại diễn ra đồng thời với các hoạt động như đứng, di, di tiểu, đi phân và cho con bú.
Bò dành 25-80 phút nhai lại cho mỗi kg thức ăn thô được tiêu thụ (Sjaastad và ctv, 2003), bò sữa trưởng thành khỏe mạnh nhai lại 7-8 giờ mỗi ngày (Adin và ctv, 2009). Thời gian nhai lại trung bình ở bò sữa khỏe mạnh được ước tính là 463 phut/ngay ở bò lứa 1 và 522 phut/ngay ở bò lứa 2 trở lên (Soriani va ctv, 2012). Tuy nhiên, mức độ giảm thời gian nhai lại không khác nhau giữa bo lứa 1 và bò sinh từ lứa 2 trở lên (Reith và ctv, 2014). Việc nhai lại được bò tự kiểm soát và bò sẽ ngừng nhai lại nếu bị quấy ray, như trong quá trình vat sữa (Lindgren, 2009).
Bò có thé nhai lại khi đứng, nhưng tốt hơn là khi nằm (Acatincai và ctv, 2010). Tuôi và giống cũng liên quan đến khoảng thời gian giữa các lần nhai lại. Thời gian nhai lại trên mỗi bò tăng theo độ tuổi (Gregorini và ctv, 2013). Ngoài ra theo khảo sát của Prendiville va ctv (2010), nếu tính trên một đơn vị trọng lượng cơ thé thì thời gian nhai lại của bò Jersey cũng lớn hơn so với bò HF.
Trong một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Pereira và Heins (2019) trong thời gian 4 năm cho thấy những con bò Holstein có thời gian nhai lại cao hơn so với những con bò lai và các tác giả cho rằng điều này là do sự khác biệt về kích thước cơ thể của những con bò này. Nhai lại là một trong những đặc điểm về tập tính ăn và nằm của bò. Việc nhai lại bị ảnh hưởng bởi các yếu tố dinh dưỡng như khả năng tiêu hóa thức ăn, lượng NDF, thành phần khâu phan và chất lượng thức ăn thô xanh (Beauchemin, 1991). Khẩu phần thức ăn chứa 11,7% NDF giúp giảm thời gian nhai lại 12,7% so với chế độ ăn với 14,1% NDF; thời gian nhai lại tăng 23,5% trên mỗi kg thức ăn thô ăn vào (Adin và ctv, 2009).
Một số chất bổ sung trong khẩu phần có tác dụng ảnh hưởng đến thời gian nhai lại trên bò, như nghiên cứu của DeVries và Chevaux (2014) khi bổ sung men sống, trong đó có Saccharomyces cerevisiae trong khâu phần với hàm lượng 1,1010 cñu/bò/ngày thi thời gian nhai lại lâu hơn, hay kết quả nghiên cứu của Salfer va ctv (2018) cho thấy khi bé sung chất béo cũng ảnh hưởng giảm biên độ nhịp điệu nhai lại hằng ngày. Mặt khác, chế độ ăn nhiều chất xơ, ít tinh bột khiến thời gian nhai lại hàng ngày lớn hơn, tỷ lệ thức ăn thô xanh trên thức ăn tinh và chiều dai thức ăn thô có mối quan hệ khác nhau với tổng thời gian nhai lại, hàm lượng chất xơ có hiệu quả làm tăng khả năng nhai lại và tiết nước bọt, do đó làm tăng pH dạ cỏ (Beauchemin va Yang, 2005; Yang va Beauchemin, 2007; Salfer va ctv, 2018). Thời gian nhai lại được sử dụng để theo đõi và quản ly bò sữa, bao gồm tinh trạng sinh, phát hiện động dục, stress nhiệt và phát hiện bệnh. Sự suy giảm khả năng nhai lại trên bò là một dấu hiệu của sự căng thắng (Herskin và ctv, 2004), tình trạng lo lắng (Bristow và Holmes, 2007), hoặc bò có bệnh (Hansen và ctv, 2003).
Nếu thời gian nhai lại hằng ngày giảm do sinh lý tự nhiên thì có thé tự hồi phục, bao gồm quá trình sinh và thời kỳ động dục của bò, sự thay đổi này cần được chân đoán phân biệt với giảm nhai lại do bệnh lý. Thời gian nhai lại và quá trình đẻ g plnT(hgútiạ/aờày) + Giai doan cạn sữa ề Thời gian nhai lại trung bình trong + suốt chu kỳ cho sữa là 478 phut/ngay 382? - NO TD OR OO o oOorrrerererererefe 101 111 121 131 141 Số ngày cho sữa (Doron và Ran, 2010) Hình 1. Thời gian nhai lại khi bò sinh Quá trình sinh là một sự kiện quan trọng đối với bò cái và có những thay đôi trong hành vi của bò trong khoảng thời gian sinh. Bò dành ít thời gian hơn dé nhai lại khi sắp sinh, nhai lại giảm dần vào ngày sinh và hồi phục nhanh chóng vào tuần tiếp theo (Doron va Ran, 2010; Schirmann và ctv, 2013; Paudyal va ctv, 2016).
Theo ghi nhận của Bũchel va Sundrum (2014), mức nhai lai trung bình giảm 27% trong 6 giờ trước của quá trình sinh. Ngoài ra, tác giả Calamari và ctv (2014) cũng cho thấy thời gian nhai lại trung bình trước khi sinh là 479 phútngày va sau đó giảm 30% thời gian nhai lại trước khi sinh và đạt giá trị tối thiểu (264 phút/ngày) khi sinh. Bò ngừng nhai lại khi sinh và tiếp tục nhai lại sau khi sinh. Quá trình sinh chủ yếu ảnh hưởng đến thời gian và tần suất nhai lại, trong khi đó ít ảnh hưởng đến cường độ nhai lại (Pahl va ctv, 2014).
Nghiên cứu của Mammi và ctv (2021) nhận thấy ở bò sinh khó thì thời gian nhai lại sau khi sinh sẽ thấp hơn, bởi các tác động căng thắng, stress, đau đớn và thời gian sinh kéo dài hơn trên bò. Thời gian nhai lại và phát hiện động dục © Let Activity © |šÄs Daily Feed Consumption © (pis shift Yield © l4 allchanges © As Lactation © 3 Weighted Activity And Rumination Change © BX Animal Daily Weight © [::2 Mik Composition © |B Comparing Cows to Their Group and Herd | ARM URUTTiristiori @ Rumination Raw Data o— Rumination Deviation by 2 o= Total Rumination Minutes @—— Weighted Rumination Change Hours In Last 24 Hours @ Events 1205 1600 1400 80- +1200 1 1000 |-800 ae s A ea | zoo | | T0 Cama) > AI i a) 0 12:00 AM-2:00 12:00 AM-2:00 12:00 AM-2:00 12:00ẢM-2:00 12:00 AM-2:00 12:00 AM-2:00 12:00 AM-2:00 AM AM AM AM AM AM AM 6/26/2024 7/3/2024 7/10/2024 7/17/2024 7/24/2024 7/31/2024 8/7/2024 Date and Time (Nguon: Phan mém DataFlow TM II, 2024) Hình 1. Thời gian nhai lại khi bò động dục Reith và ctv (2014) đã chỉ ra lợi ích tiềm năng của việc theo đõi nhai lại dé xác định "động dục thầm lặng", so với khi chỉ theo dõi chỉ số hoạt động thì có thể không phát hiện được. Hành vi nhai lại có thé bị giảm trong thời ky động dục do giảm lượng thức ăn và giảm thời gian nằm (Reith và Hoy, 2012).
Vào ngày động dục, bò giảm thời gian nhai lại 19,6% (83 phut/ngay) với mức thấp nhất, đồng thời bò có biểu hiện tăng động (Reith và ctv, 2014). Thời gian nhai lại giảm ở 82% các trường hợp động dục, tuy nhiên độ nhạy và độ đặc hiệu của việc phát hiện động dục sẽ giảm khi bò được chăn thả trên đồng cỏ (Minegishi va ctv, 2019). Thời gian nhai lại và phát hiện bệnh Hoạt động nhai lại giảm nhận thấy khi bò bị các bệnh như viêm vú, viêm tử cung, hạ calci huyết, sốt sữa, các vấn đề tiêu hóa, đau chân và ketosis lâm sàng (Paudyal và ctv, 2018). Thời gian nhai lại được xem là một yếu tố dự báo tốt về nhiễm ketosis cận lâm sang ở cả bò sữa trước sinh và sau sinh (Cocco va ctv, 2021).