Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ 1. Khái quát tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang 1. Giai đoạn trước khi xuất gia Bất cứ một tổ chức nào hay tôn giáo nào muốn hoạt động tốt, duy trì bền chắc lâu dài cũng đều có một phương pháp, một kế hoạch,một đường lối tu tập riêng để đưa tôn giáo của mình hoạt động xuyên suốt, phát triển vững mạnh, duy trì phát triển hơn. Hệ phái khất sĩ cũng không ngoại lệ.
“Đạo Phật Khất sĩ” là một tôn giáo còn non trẻ và thuần Việt được khai sinh ra do Tổ sư Minh Đăng Quangsáng lập ra trong bối cảnh đất nước trong thời kỳ đô hộ kiềm kẹp của thực dân Pháp.Phật giáo trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thực trạng đạo đức xã hội xuống cấp; việc tu học bê tha trì trệ, đời sống tu sĩ nghiêng về cúng tụng cầu xin, xem xăm bói quẻ, biến các tự viện thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và có tính sở hữu riêng tư, tu sĩ không sống đời sống độc thân mà sống đời sống gia đình, không lo trau giồi đạo hạnh, nghiêm trì giới luật làm mất niềm tin nơi tín đồ Phật tử. Trước thực trạng như vậy,cùng chung với sự bùng nổ sự chấn hưng Phật giáo của thế giới, vì vậy chư tôn Hòa thượng đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt nam, kêu gọi toàn thể Tăng ni đứng lên chấn chỉnh lại đường lối tu tập, tự thân nổ lực kết nối đoàn kết tăng ni hành trì giới luật,tạo dựng niềm tin trong cộng đồng xã hội thời bấy giờ. Trên tinh thần ấy Tổ sư Minh Đăng Quang đã kêu gọi Tăng đồ hãy mạnh dạn cùng chung tay với Ngài để chấn chỉnh lại nền Phật giáo nước nhà. Theo Tổ sư Minh Đăng Quang, việc chấn hưng Phật giáo phải được thực hành trong từng cá nhân của tu sĩ Tăng ni không phải là hô hào suông.
Tự thân của mỗi tu sĩ phải ý thức nỗ lực, phải biết bổn phận trách nhiệm của mình với đạo pháp và dân tộc, phải đứng lên kề vai sát cánh,góp sức cùng chư Tôn Hòa 11 Thượng chấn hưng Phật giáo nước nhà, mà muốn như vậy thì tự thân của mỗi tu sĩ phải thực hiện gương mẫu trước, phải hành trì Giới, Định,Tuệ, phải thực hiện nếp sống lục hòa, hành trì Tứ y pháp. Trong Chơn lý bài “Tông giáo” Tổ sư có viết: “ Tăng chúng phải đủ giới luật để quy hợp cư gia, để gắn liền tông giáo, hầu vẹt bóng mê tín, đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa trước kia”. “ hãy nghĩ đến Đạo, đến Phật, đến chúng sanh. phải nâng cao giới luật, đó mới là phận sự của Tăng bảo.
thì tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe với người nguy, đó mới là phận sự chánh của Tăng già.Thật vậy, chỉ có Tăng chúng mới lập đạo đặng”[21, tr. Đứng trước hoàn cảnh của đất nước và đạo pháp như vậy, Tổ sư quyết tâm thực hành và lập chí nguyện “nối truyền Thích Ca chánh pháp” cũng như khuyến hóa tu sĩ thực hiện những gì mà Đức Phật đã dạy,khôi phục nếp sống Tăng đoàn xưa. Trong bối cảnh đó, “Đạo Phật Khất Sĩ” đã xuất hiện ở Miền nam Việt nam do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng và hành theo “Y bát chơn truyền” sống đời sống du phương rầy đây mai đó không trụ một chỗ, không bị vướng vào một nơi, đi khắp nơi, lấy mọi nơi làm nhà bất cứ nơi đâu gốc cây, nghĩa địa, hàng sạp ở chợ làm nơi trú thân để hóa độ chúng sanh. Ngài cho rằng: “Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn.
Con đường ấy là Khất sĩ. Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ. Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh. Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học biết sáng tự nhiên mê lầm vọng động” [21, tr.
Tổ sưđã chắt lọc tinh hoa kết hợp bởi hai luồng tư tưởng chính là Bắc truyền và Nam Truyềnđể tạo nên “Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam”. Vì vậy về mặthình thức thì Ngài đắp y, mang bát trì bình khất thực là đặc trưng của Nam truyền, về đường lối hành trì Ngài thọ giới, Ngài thọ giữ 250 giới của Bắc 12 truyền, còn phương pháp tu tập thì Ngài dung hợp cả hai tư tưởng đúc kết thành cái của riêng mình. Trong bộChơn Lý Ngài giải thích rất nhiều về kinh điển Đại thừa cũng như kinh điển hệ Nikaya,và trong phương pháp hành thiền Ngài đã kết hợp cả hai tư tưởng tạo nên phương pháp riêng cho hệ phái cho nên“Hệ phái khất sĩ” được thành lập trong thời Phật giáo Việt Nam đã xuống cấp trầm trong về đạo đức làm mất niềm tin nơi dân chúng thời bấy giờ. Cho nên với hạnh nguyện đem đạo vào đời ngõ hầu làm lợi ích cho chúng sanh.
Với tâm nguyện“Nối truyền Thích Ca chánh pháp”.Có thể nói, đây là Hệ phái sanh sau ra đời muộn, nhưng mang tính việt hóa từ hình thức cho đến nghi lễ và tu tậpnên đã được người dân miền Tây Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung đón nhận một cách hoan hỷ nồng hậu (cũng bởi người dân cảm nhận đây là một Tôn giáo dành riêng cho người Việt). Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang, tên thật là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn. Sanh tại Làng Phú Hậu, Tổng Bình Phú, quận Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long, nơi được gọi là địa linh nhân kiệt. Thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Tỵ (tự Nhàn).
Cụ ông và cụ bà đều là người phúc đức, nhân hậu sống theo đạo thánh hiền, thực hành câu: “ nhân- nghĩa- lễ- trí- tín”, được người đời khen tặng là gia đình “ Nho phong tiết thái”. Cụ ông và cụ bà có năm người con, Ngài là con út trong gia đình. Trước Ngài có bốn anh chị, cụ bà sanh nở bình thường, riêng Ngài cụ bà thọ thánh thai đến mười hai tháng mới khai hoa. Ngài chào đời vào ngày Tân Tỵ, lúc 10 giờ tối, ngày 26 tháng 9 năm Qúy Hợi(1923).
Đến ngày 25 tháng 07 năm Giáp Tý (1924) thân mẫu Ngài qua đời, hưởng dương 32 tuổi, lúc đó Ngài vừa tròn mười tháng tuổi. Ngài được cô (cô út) đem về nuôi 1 tháng, sau đó được bác dâu thứ 8 đem về nuôi một tuần, rồi Ngài được gởi về quê ngoại. Bà ngoại Ngài nuôi đến ba tuổi. Năm ấy thân phụ Ngài tục quyền là cụ bà Hà Thị Song dưỡng nuôi.
Từ đó, 13 Ngài được sống trong vòng tay ấm áp của cha và kế mẫu. Cụ ông mất vào ngày mồng 5 tháng giêng năm mậu thân (1968) thọ 75 tuổi. Tuy được sanh trưởng ởlàng quê, nhưng tính cách của Ngài khác thường hơn so với các bạn đồng trang lứa. Ngài thể hiện phong cách đi đứng ngồi nằm, ăn mặc v.
đều toát lên vẽ trang nghiêm điềm đạm. Tuy Ngài còn nhỏ nhưng thể hiện lòng từ bi rất rõ, như khi được thân phụ cho tiền đi xe ngựa thì Ngài đi bộ, khi hỏi ra mới biết là Ngài luôn nghĩ xót xa cho chú ngựa và dùng tiền đó giúp đỡ người khác. Hay khi ở trường lớp thì Ngài luôn chia sẽ dụng cụ học tập cho các bạn nghèo trong lớp, hay thường giảng lại bài cho các bạn chưa hiểu. Ngoài việc học ở trường, Ngài có trí thông minh khác thường như sau khi về nhà Ngài thường đọc lịch sử các danh nhân và kinh sám, truyện, sự tích.
Đặc biệt đọc đến đâu Ngài nhớ đến đó, và luận giải, phê phán có phương pháp rõ ràng. Năm 14 tuổi Ngài đỗ bằng Diploma (bằng Cao đẳng). Ngoài giờ học ở trường, Ngài thường phụ giúp việc nhà. Ngài luôn thể hiện lòng hiếu kính đối với cha mẹ, hòa đồng với mọi người.
Ngài theo cha từ nhỏ, đốt hương cúng Phật vào mỗi tối. Ngài rất siêng năng nghiên cứu tìm hiểu tường tận sách vở giáo lý Đạo Phật. Ngài luôn ghi chép các sử liệu tôn giáo, nhất là Tam giáo Thích, Đạo, Nho. Vốn sẵn có tuệ căn, Ngài thường tìm đến các bậc thức giả trưởng thượng thời bấy giờ để tham vấn đạo lý.
Nhờ vậy, mỗi khi tiếp chuyện với những người thiện duyên, Ngài đều lý giải một cách tinh tường và được mọi người khâm phục.Thời kỳ xuất gia tầm đạo Vốn sẵn có căn duyên với Phật pháp, Ngài xin phép thân phụ qua chùa Tháp tầm sư học đạo, nhưng thân phụ Ngài quá thương con còn thơ bé nên không cho. Qua nhiều đêm suy nghĩ, không thể vì tình cảm riêng tư nhỏ bé mà bỏ chí nguyện, nên Ngài quyết chí ra đi. 14 Thôi thì thôi, thế thì thôi Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha Thiếu niên ngày nọ lìa nhà Vượt biên giới việt, niên xa dặm ngàn Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành Ngài rời Việt Nam, đến Campuchia năm 15 tuổi, thọ giáo với ông Lục Tà Keo, người mà cha Ngài đã quy y, nên cha Ngài đã gởi gắm. Chính nơi vị Thầy đầu tiên này, Ngài đã trải qua thử thách cam go như đào giếng, lấp ao, trông coi vườn rẫy, quản lý công nhân các cơ sở sản xuất lò vôi, buôn bán và được ông tin tưởng và giao hết tài sản cho Ngài quản lý.
Cũng vì vậy mà Ngài thấu hiểu được duyên đến duyên đi. Tính chất tạm bợ giả hợp của vật chất, và Ngài nhận ra rằng hạnh nghiệp tại gia vừa làm vừa tu giúp đời không phù hợp với tâm nguyện xuất trần của mình. Nên Ngài xin phép Thầy trở về việt nam. Trở về gặp lúc loạn lạc chiến tranh (Pháp, Nhật thôn tính Việt Nam), Ngài ở với thân phụ một thời gian, Ngài lên Sài Gòn làm nhà hàng của người Nhật, và sau đó được người quen giới thiệu đến làm cho một hãng buôn lớn ở vùng chợ lớn và được chủ hãng buôn gã con gái của ông là Liễu Kim Huê.
Một thời gian sau Kim Huê sanh một bé gái đặt tên là Kim Liên. Vừa tròn một tháng tuổi thì Kim Huê lâm trọng bệnh và qua đời. Bấy giờ Ngài nghĩ việc đem con về ông bà Nội, nhờ chị thứ 3 ở Vĩnh Long nuôi dưỡng dùm. Nuôi đến 2 tuổi, ông cụ đem cháu về nuôi được vài tháng thì Kim Liên ngã bệnh rồi ra đi (chết).
Gẫm trong trời đất vô cùng Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài Hay là ý thánh Như Lai Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương? Đau thương là tính vô thường 15 Vô thường là tính đoạn trường xưa nay. Đây là những bài học đã làm thức tỉnh chí nguyện xuất gia tìm cầu giải thoát trong Ngài.