Chương 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TỰ DO HOA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ ASEAN 1. Khái niệm tự do hóa throng mại dich vụ 1.11 Dinh ngiữa thương mại dich vụ Hiện nay van chưa có một định nghĩa thông nhất về dich vụ trên thé giới. Một trong những phạm tri dau tiên mà C. Mác va Ph Anghen nghiên ctu về triết học là Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó những hoc thuyết hình thái kinh tế-xã hội, cụ thé đôi tương dau tiên can nghiên cứu là “san xuất vật chat la cơ sở của su tôn tại va phát triển xã hôi”.
Theo cách tiếp cận của kinh tế học tân cỗ điển hay kinh tế hoc vi mô, sản xuất la quá trình chuyển hóa các yếu tô dau vào thành các yêu tô đâu ra. Tiếp cân theo góc độ kinh tế, “Dich vu trong quốc lễ, được hiểu là những thứ tương tự nine hàng hóa nhưng là phi vật chat. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữm hình và những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dici: vw") Theo cách tiép cận của nhà kinh tế học Philip Kotler: “dich vụ ia bắt tỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chi thé nay có thê cưng cắp cho chủ thé kia Trong dé đối tương cùng cấp nhất dinh phải mang tính vô hình và không dẫn đến bat ip quyền sở hữm một vật nào cả Con việc sản xuất dich vụ có thê hoặc không cần gắn liền với một san phẩm vật chat nao” ? Định nghĩa này của Philip Kotler đã khái quát dich vu theo phạm vi rông nhất và nêu rõ đặc điểm điển hình nhất của dich vụ là phi vật chất. Trong khuôn khô Tổ chức Thương mại thể giới (World Trade Organization - \WTO), Hiệp định chung về thương mai dich vụ (GATS) là hiệp định toàn diện về thương mai dich vụ, được coi la khung nguyên tắc va cam kết tiêu biểu của các quốc gia thành viên WTO khi mỡ cửa thị trường nay.
Khái niệm dich vụ và thương mai dich vụ trong GA TS là quan điểm được da số các quốc gia thảnh viên công nhận. Từ cách phân loại 12 ngành dịch vụ trong Ì Nick Jolms (1999), What is as thing called service ?, European Jounal of Marketing, pp, 10. 2 philip Kotler (2020), The Suportanxe of Service and Value pp.6 VÀ GATS, có thé thay hướng tiếp cận định nghĩa dich vu của Ban thư ky WTO dựa trên các lĩnh vực hoạt động tạo ra gia tri thăng dư lớn va chủ yêu trong kinh tế hiện đại. Việc phân loại dich vu như vay đã đáp ứng được yêu câu cu thé hóa các cam kết về dich vụ của các quốc gia thành viên của GATS trong bối cảnh thương mại toản câu hóa, tạo ra một môi trường dau tư về thương mại dich vụ cho các quốc gia thành viên một cách rố ràng vả minh bạch chưa từng có tại thời điểm GATS chính thức được thông qua.
Có thé thay, cách tiếp cận định nghĩa và phân loại dich vu như Ban thư ký WTO có những ưu điểm nhất định trong hoan cảnh các quốc gia ngay cảng có những cam kết mở hon và mức độ tự do hóa cao hơn GATS. Một trong những ưu điểm lớn của cách tiếp cận này là cụ thể hóa một khái niệm rất rộng như dịch vụ, cách phân loại nay còn giúp các quéc gia dé dang hơn khi tiếp cân thị trường dich vụ của các quốc gia thành viên va tránh những xung đột liên quan đền việc phân biệt, phân loại các ngành, nhóm ngành dịch vụ. Theo cách tiếp cận nay, các hoạt động tao ra gia trị thăng dư được hiểu là dịch vụ có đặc điểm chung lả kết quả của nó có thể là sản phẩm dưới dang vô hình hoặc hữu hình. Hoạt đông làm tăng giá trị của một hoặc nhiều hang hoa có sẵn tré thành một sản phẩm tao ra một sản phẩm có giá trị cao hơn ban đâu được hiểu chính xác là dich vụ.
Hoạt động tạo ra một san phẩm có giá tri vô hình như sự thuận tiên, tri thức, sức khöe, chất lương cuôc sông. cũng được hiểu là dich vụ. Vệ thương mại dịch vu, theo GATS thương mại dich vụ là việc cùng cấp dich vụ thông qua bat kỳ phương thức nao trong bón phương thức cung cấp: xuyên biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thương mại va sự hiên diện của thé nhân Sự khác biệt giữa các phương thức nay dựa trên việc nha cung cấp dich vụ và người tiêu ding có mặt ỡ cùng mét quốc gia hay các quốc gia khác nhau khi giao dịch xây ra. Cụ thể la § Phương tức 1: Cung cấp xuyên biên giới (Cross-border supply), lả phương thức ma theo đó, dich vu được cung cấp từ lãnh thô của một thành viên nảy sang lãnh thô của một thành viên khác.
Tương tự như thương mại truyền thống, khi hàng hóa được chuyên qua biên giới thì cả nhà cung cấp vả người tiêu dùng đều ở lại quốc gia của họ. Ví du, vận tải hàng hóa hoặc van chuyển hảnh khách từ Trung Quốc vào Việt Nam. Đặc điểm nhận biết của phương thức nay la hoạt động dich vụ diễn ra từ lãnh thé quốc gia nước ngoài vào Việt Nam, không xét đến các yếu tô chủ thé cung cấp dịch vụ và chủ thé yêu cau dịch vụ Phuong thức 2: Tiêu dùng dich vu ở nước ngoài (Consumption abroad), là phương thức theo đó người tiêu dung của một thanh viên di chuyển sang lãnh. thd của một thành viên khác dé tiêu ding dich vụ.
Ví du, du học sinh của nước ngoài thuê nhà tại Việt Nam. Đặc điểm của phương thức nay 1a chủ thé sử dung dich vụ tiêu dùng tại lãnh thô của thành viên khác, thông thường việc cam kết phương thức nay là điều dé dang, gan như không có hạn chế gi vi lợi ích trực tiếp ma phương thức nay đem lại cho các quốc gia thành viên và hau như không có rủi ro. Phuong thức 3: Hiện diện thương mại (Commercial presence) la phương thức ma theo đó nha cung cap dich vụ của một thành viên thiết lập các hình thức hiện điện của mình như Công ty 100% vốn nước ngoài, Công ty liên doanh, Chi nhánh, Văn phòng dai diện. trên lãnh thé của một Thành viên khác dé cung cấp dich vu.
Ví du, Samsung Electronics Co, Ltd thành lập Công ty 100% vén nước ngoài tại Việt Nam là Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (25/03/2008). Nhận biết phương thức nay, có thé thay các cá nhân, pháp nhân nước ngoài (nha dau tư nước ngoài) thanh lập doanh nghiệp hoặc đơn vị trực thuộc của minh tại lãnh thô quốc gia thanh viên khác dé cung cap dịch vụ, mà hình thức của nhà đâu tư nước ngoài được gọi là hiện điện thương mại. Mức đô cam kết mở cửa về dich vụ đôi với phương phức này được đánh giá trên tỷ lệ vôn của nhà đầu tư nước ngoài cũng như hình thức đầu tư có bắt 9 buộc liên doanh hay không. Có thé nói, đây là phương thức phô biến và rat quan trong trong việc đánh giá mức đô cam kết của Thành viên về thương mại dịch vụ Phương thức 4: Sw hiện điện của thể nhân (Movement of natural persons), là phương thức ma theo đó, thé nhân cung cap dich vụ của một quốc gia thành viên di chuyển sang lãnh thé của một quéc gia thành viên di chuyển sang lãnh.
thd của một quéc gia thành viên khác dé cung cấp dịch vu. Ví dụ, các chuyên gia của Mỹ sang Việt Nam dé dạy hoc. Các cam kết của Việt Nam hiên tại đôi với phương thức cung cap dich vụ nay của thể nhân nước ngoai còn đang rat hạn chế va dé dat, đa số la chưa cam kết, trừ các cam kết chung. Từ cách tiếp cận phương thức cung cấp dich vu, có thé xác định rỡ ràng được phạm vi những vân đề pháp lý phat sinh khi các chủ thể cung cap dich vụ của các quốc gia thanh viên tiền hành hoạt động thương mại trong các lĩnh vực được coi là dịch vụ trên lãnh thé của các quéc gia thảnh viên khác.
Các van đê pháp ly đó có thé tác đông trực tiếp đến các mat. Kinh tế, văn hóa, chính trị. của quốc gia thành viên khi mở rông các cam kết về Thương mại dịch vụ. Vai trò của tự đo hóa thương mại dich vu Thương mai dich vụ được thé hiện dưới nhiều hình thức và ngày càng da dang hóa do sự phát triển về khoa hoc kỹ thuật, nhu câu x4 hội ngay cảng cao, doi hỗi nhiêu dich vụ với yêu câu về chất lượng, sự tiện lợi va nhiều yêu tô mới Đi kèm với thương mai hàng hóa đa quốc gia ngày cảng trở nên phô biên va can thiết, thì các dich vu mới hỗ trợ, đời hỏi các nên tảng công nghệ, logistics, tư vân pháp lý và các dịch vụ liên quan cũng phát triển với tôc độ nhanh chóng.
Từ đó có thé thay, tính chất tương đông, gắn bó giữa thương mại hang hóa va thương mại dịch vụ. Từ tính chất tương tự giữa hàng hóa và dịch vụ, có thể thấy thương mại hang hóa và thương mại dich vụ déu có đặc điểm la sẵn phẩm/hoạt đông được mang ra trao đổi nếu mang giá trị cao hơn giá tn của san phẩm/hoạt động được mang ra trao đôi. Giá trị đó có thé là vô hình hoặc hữu 10 hình cho nhà cung cập dich vụ, gắn bó chặt chế và phát triển tỷ lệ thuận cùng thương mại hàng hóa. Thương mại dịch vụ có zu hướng phát triển thành ngành kinh tế có tỷ trong ngày cảng lớn trong chuối cung ứng toàn câu.
Từ việc cơ câu thị trường thương mại ngày cảng đa dạng, nhu câu của con người ngày cảng cao trong chất lượng các sản phẩm tiêu dung của mình, các yéu tô về hình thức cung ứng dich vụ, thời gian sử dụng dich vụ, kế cả các yêu câu sau khi dich vụ được coi như một hình thức bão hảnh. cũng được đưa ra cho những nhà cung cấp dich vụ. Theo xu hướng phát triển đó, thương mại dịch vụ sẽ trở thành một ngành kinh tế hoàn toàn độc lập với những giá trị thương mại mang lại không thé nhâm lẫn với những ngành kinh tế khác, đóng góp trực tiếp va tạo nên xu hướng nhu câu trao đi giá trị của con người trong xã hội hiện đại. Dịch vụ chiêm hon 70% GDP toàn cầu và thậm chí còn chiếm ty trọng lớn hơn trong năng suất và tăng trưởng GDP ở cả nên kinh tế đang phát triển và nên kinh tế phát triển.