Tài liệu: Cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước cộng hòa

Cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào nghiên cứu trường hợp tại học viện c phục vụ n

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

191
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước

Cơ động xã hội là hiện tượng thay đổi vị trí, địa vị hoặc chức năng của con người trong cấu trúc xã hội. Trong bối cảnh đội ngũ cán bộ nhà nước, cơ động xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu trường hợp tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cho thấy cơ động xã hội không chỉ giúp cải thiện năng lực quản lý mà còn tạo cơ hội bình đẳng cho toàn bộ cán bộ nhà nước. Cơ động xã hội theo chiều dọc (thăng tiến hoặc hạ thấp chức vụ) và cơ động theo chiều ngang (thay đổi lĩnh vực công tác) là hai hình thức chính thường được áp dụng trong hệ thống công vụ hiện đại.

1.1. Định nghĩa cơ động xã hội

Cơ động xã hội được định nghĩa là quá trình chuyển đổi vị trí hoặc địa vị xã hội của cá nhân trong xã hội. Trong đội ngũ cán bộ nhà nước, đây là sự thay đổi chức vụ, chức danh hoặc lĩnh vực công tác của nhân viên công vụ, phản ánh tính năng động của hệ thống nhân sự và khả năng thích ứng của tổ chức hành chính.

1.2. Ý nghĩa của cơ động xã hội đối với cán bộ nhà nước

Cơ động xã hội giúp cán bộ nhà nước phát triển kỹ năng, mở rộng kinh nghiệm và tạo cơ hội thăng tiến. Nó tăng cường sự công bằng trong phân bổ vị trí, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước. Đồng thời, cơ động xã hội giúp tận dụng tối ưu tiềm năng nhân lực và xây dựng một đội ngũ cán bộ năng động, chuyên nghiệp.

II. Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Theo luận án tiến sĩ của Ketmany INTHAVONG, tình hình cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay có những đặc điểm riêng. Nghiên cứu được tiến hành trên mẫu n=510 cán bộ tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cho thấy cơ động xã hội theo chiều dọc đạt tỷ lệ nhất định, trong đó mối liên hệ giữa lớp học và cơ động xã hộ là rõ ràng. Cán bộ nhà nước Lào đều có cơ hội được dịch chuyển lĩnh vực công tác tùy theo nhu cầu và năng lực. Tuy nhiên, cơ động xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đầy đủ nguyên tắc bình đẳng và không được thực hiện một cách khoa họctoàn diện.

2.1. Cơ cấu và đặc điểm của đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Đội ngũ cán bộ nhà nước của Lào hiện có tổng số khoảng 184.161 người (năm 2018). Đặc điểm nổi bật là sự đa dạng về giới tính, độ tuổitrình độ học vấn. Cán bộ nữ ngày càng tăng trong hệ thống công vụ, tuy còn chênh lệch so với cán bộ nam. Cơ cấu tuổi của đội ngũ cán bộ có xu hướng trẻ hóa, có lợi cho phát triển cơ động xã hội.

2.2. Các hình thức cơ động xã hội thường gặp

Cơ động xã hội theo chiều dọc là hình thức chính, bao gồm thăng chứchạ chức. Cơ động theo chiều ngang (thay đổi lĩnh vực công tác) cũng được thực hiện nhưng với tỷ lệ thấp hơn. Dữ liệu từ mẫu n=269 cán bộ cho thấy dịch chuyển lĩnh vực công tác chủ yếu diễn ra giữa các bộ phậnchức năng tương tự, không phải là chuyển đổi cơ cấu toàn diện.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ động xã hội của cán bộ nhà nước

Những yếu tố ảnh hưởng đến cơ động xã hội của cán bộ nhà nước là đa chiều và phức tạp. Theo kết quả nghiên cứu tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào, các yếu tố thuộc về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọng nhất. Điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia Lào cũng ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ và phạm vi cơ động xã hội. Ngoài ra, các yếu tố cá nhân như trình độ học vấn, thâm niên công tác, giới tính, nơi sinhhoàn cảnh kinh tế gia đình cũng tác động mạnh đến khả năng thăng tiếndịch chuyển vị trí của cán bộ nhà nước.

3.1. Yếu tố chính sách và kinh tế xã hội

Chủ trương chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về công tác cán bộ là nền tảng quyết định cơ động xã hội. Tần suất thực hiện công tác cán bộ tại các cơ quan thể hiện sự chủ động của hệ thống hành chính. Điều kiện kinh tế của Lào, mặc dù còn phát triển, nhưng có tác động lâu dài đến đầu tư nhân lựccơ hội thăng tiến cho cán bộ nhà nước.

3.2. Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến cơ động xã hội

Trình độ học vấn/chuyên mônyếu tố cá nhân quyết định nhất đến cơ động xã hộ. Cán bộbằng cấp cao hơn có cơ hội thăng tiến nhiều hơn. Thâm niên công tác, lứa tuổi, giới tínhnơi cư trú cũng tương quan mạnh với sự cơ động. Nguồn gốc xuất thânhoàn cảnh kinh tế gia đình của bố mẹ có ảnh hưởng nhất định nhưng không quyết định tuyệt đối.

IV. Khuyến nghị nâng cao cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước

Để nâng cao hiệu quả cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước, cần thực hiện một số biện pháp chiến lược. Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về công tác cán bộ, làm rõ tiêu chuẩnquy trình của cơ động xã hội. Thứ hai, tăng cường đào tạophát triển năng lực cho cán bộ nhà nước để tạo cơ hội bình đẳng. Thứ ba, xây dựng hệ thống đánh giá khách quan, dựa trên năng lựcthành tích, không chỉ dựa trên sự tham khảo chủ quan. Cuối cùng, cần tạo điều kiện để cán bộ nữcán bộ từ vùng khó khăncơ hội công bằng trong cơ động xã hội.

4.1. Cải thiện khung chính sách và luật pháp

Hoàn thiện khung pháp lý là bước đầu tiên để nâng cao cơ động xã hội. Các chính sách cần rõ ràng, công khaiphi nhân thân hóa. Quy trình tuyển chọnbổ nhiệm phải minh bạch, dựa trên năng lực thực tế của cán bộ. Áp dụng tiêu chuẩn thống nhất trong đánh giá cán bộ trên toàn quốc giúp công bằng hóa cơ động xã hội.

4.2. Đẩy mạnh đào tạo và phát triển nhân lực

Đầu tư vào đào tạo cán bộ nhà nước tại Học viện Chính trị và Hành chính là cần thiết. Các khóa học nên thiết kế khoa học, cập nhật kiến thức, giúp cán bộ sẵn sàng cho vị trí cao hơn. Hỗ trợ học tập để nâng cao trình độ có giúp mở rộng cơ hội thăng tiến cho toàn bộ cán bộ nhà nước.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng và khuyến nghị về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁN BỘ NHÀ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ LÀO Trong phần này tác giả tập trung tìm hiểu các bài viết, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới và Lào về cơ động xã hội và cán bộ Nhà nước như các nghiên cứu chung, quan điểm, khái niệm, các loại hình cơ động xã hội và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu, NCS tóm tắt những giá trị của các công trình nghiên cứu đã làm được,. Đưa ra quan điểm, đánh giá của NCS đối với các nghiên cứu và các đóng góp của các công trình nghiên cứu có liên quan.

Đồng thời chỉ ra những hạn chế và khoảng trống của các nghiên cứu cần tiếp tục hoàn thiện. Các nghiên cứu về cơ động xã hội và cán bộ nhà nƣớc của các nƣớc phƣơng Tây - Nghiên cứu về cơ động xã hội nói chung Nghiên cứu về hiện tượng phân tầng xã hội nói chung, cơ động xã hội nói riêng với những khác biệt mang tính tầng lớp xã hội đã có lịch sử hàng ngàn năm. Thời Hy Lạp Cổ Đại ở phương Tây, các nhà triết học nổi tiếng như Socrates, Plato, Aristotle đều ít nhiều đề cập đến “mô hình xã hội” với các tầng lớp xã hội khác nhau trong mối quan hệ thống trị - bị trị. Trong cuộc cách mạng công nghiệp và những cuộc cách mạng xã hội ở Tây Âu, người ta đã chứng kiến một số giai cấp mới xuất hiện, một số giai cấp suy tàn, biến mất.

Trong bối cảnh đó, hàng loạt học giả đã nghiên cứu về các giai tầng, về sự khác biệt giữa các giai tầng trong xã hội. Nhà khoa học vĩ đại C. Mác đã đưa ra lý thuyết duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc lý giải về sự hình thành các giai cấp và phân tích sự chuyển động của những cơ cấu xã hội cụ thể. Kế tục sự nghiệp của C.

Mác, Lênin đã có những công trình nghiên cứu sâu về kết cấu xã hội. Max Weber đã sử dụng sơ đồ 3 yếu tố: địa vị kinh tế (sở hữu tài sản và cơ may thị trường), địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín) để xây dựng lý thuyết về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Với sơ đồ phân tích này, ông mở rộng việc nghiên cứu cơ cấu xã hội không phải chỉ ở các giai cấp cơ bản mà còn là những tầng 12 lớp khác nữa (giai tầng), không phải chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác. Đến khoảng cuối những năm 1920, nghiên cứu phân tầng xã hội và cơ động xã hội đã có nhiều phát triển về mặt thực nghiệm, đã lan sang nhiều nước trên thế giới [4].

Các nhà xã hội học ở phương Tây đã vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội, cơ động xã hội của M. Weber, quan điểm chức năng luận, quan điểm xung đột để đẩy mạnh nghiên cứu phân tầng xã hội, cơ động xã hội về mặt thực nghiệm, qua đó góp phần làm rõ kết cấu giai tầng của các xã hội phát triển ở phương Tây, giúp cho các Nhà nước cầm quyền có thể kiểm soát và quản lý được tương đối hiệu quả sự vận động của xã hội [36]. Liên quan đến vấn đề này, vào cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện câu hỏi nổi bật về sự truyền thụ đặc điểm từ thế hệ này sang thế hệ khác là có tầm quan trọng. Ví dụ: Galton (1886), ông là người sáng tạo ra khái niệm hệ số tương quan trong thống kê và phát triển hồi quy về điểm trung bình.

Ông là người đầu tiên áp dụng các phương pháp thống kê đối với nghiên cứu về sự khác biệt của con người và tính di truyền của trí thông minh đó là “luật hồi quy” của di truyền, đây chính là cách tìm ra tại sao con cái trở nên tầm thường hơn bố mẹ. Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, có rất nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về vấn đề cơ động xã hội. Pitirim Sorokin, một trong những cha đẻ nổi tiếng trong việc phân tích cơ động xã hội và bàn về cơ động xã hội khá hệ thống. Ông đã nghiên cứu các loại hình xã hội trong lịch sử và kết luận rằng: chưa có bất kỳ xã hội nào hoàn toàn mở ra đầy đủ các cơ hội cho sự cơ động và cũng chưa có bất kỳ xã hội nào (ngay cả xã hội đẳng cấp của Ấn Độ) đóng cửa hoàn toàn những cơ hội cho sự cơ động xã hội.

Ông đưa ra luận điểm rằng, không bao giờ hai xã hội nào đó cho phép (hoặc hạn chế) có cùng một mức độ cơ động. Tốc độ của sự dịch chuyển xã hội hoặc thay đổi xã hội khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử. Tỷ lệ thay đổi phụ thuộc vào mức độ hiện đại hóa xã hội đó. Ngoài ra, Sorikin đã nghiên cứu sâu hơn đến vấn đề tính cơ động xã hội, ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên - xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới với vị trí của mình trong trật tự xã hội.

Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự cơ động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra cơ động xã hội [39]. 13 Những quan tâm nghiên cứu cơ động xã hội của Joseph H. Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng cơ động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại ô.

Theo định nghĩa của James A. Barber một nhà nghiên cứu nổi tiếng về cơ động xã hội. Theo quan điểm của ông, cơ động xã hội đề cập đến một số dịch chuyển, hoặc lên hoặc xuống giữa các tầng lớp xã hội cao hơn hoặc thấp hơn; hay chính xác hơn, di chuyển giữa những vai trò được đánh giá là có ý nghĩa xã hội về mặt chức năng cao hơn hoặc thấp hơn. Sự dịch chuyển này như là một quá trình diễn ra theo thời gian, đối với các cá nhân, đây là sự di chuyển từ một vai trò và vị trí đã xảy ra với họ trong các loại tương tác xã hội khác nhau.

Sự cơ động phát sinh trong tương tác xã hội, khi từng cá nhân phản ứng với những người khác trong một loạt thay đổi về vai trò xã hội [4]. Với ý nghĩa này, cơ động “đem lại cho cá nhân nhiều hơn hoặc ít hơn những lợi ích mà nền kinh tế và xã hội đã cung cấp”. Ví dụ như con trai của một người của một nhân viên bán hàng trở thành một luật sư; con của một người đẩy xe kéo trở thành một bác sĩ… Trong mỗi trường hợp, một sự thay đổi trong vai trò giữa người cha và con trai đem lại cho người con nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Khi nghiên cứu cơ động xã hội trong xã hội Mỹ, theo LJ.Zelznick trong cuốn Xã hội học đã sử dụng bốn tiêu chí để xác định tính chất của cơ động xã hội.

Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thói quen, văn hóa, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự cơ động xã hội [29]. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề “cơ động xã hội” trong nhiều tác phẩm khác nhau và ở những góc độ khác nhau nhưng phần lớn có quan điểm rằng: cơ động xã hội là đề cập đến sự di chuyển của các cá nhân hoặc các nhóm từ một vị trí của một hệ thống phân tầng xã hội này sang hệ thống phân tầng xã hội khác. Đây là sự di chuyển lên hay xuống của các nhóm trong xã hội mà họ đã được chỉ định. Trong đó, sự nổi lên của một người từ một nền tảng rất nghèo đến chức tổng thống (ví dụ, A.

Abdul Kalam, tổng thống của Ấn Độ) hoặc một số vị trí khác về uy tín, quyền lực hay phần thưởng tài chính lớn là một ví dụ về tính cơ động xã hội. Tính cơ động cả đi lên và đi xuống. Vì vậy, nó là một phong trào lên hoặc xuống trong các bậc thang xã hội hoặc trong địa vị xã hội. Đồng thời, trong một số xã hội, một số người 14 không thể duy trì được thứ hạng lớp xã hội của họ, trong đó họ được sinh ra vì mất của cải hoặc có nghề nghiệp có thu nhập thấp và tình trạng cuộc sống cũng thấp hơn yêu cầu của xã hội đó.

Đây chính là những triệu chứng và quá trình di chuyển xuống. Trái ngược với điều này, những người có được tài sản, thu nhập, địa vị hoặc sự thay đổi trong công việc xếp hạng cao hơn cho thấy sự di chuyển lên trên. Và điều đó là một điều tất nhiên như Lipset và Bendix (1960) đã xác định tính cơ động xã hội là “một quá trình mà cá nhân di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác giữa các sắp xếp phân cấp như vậy được tìm thấy trong mỗi xã hội” [89, tr 424-426]. Trên thực tế, nghiên cứu về tính cơ động xã hội ở một khuôn khổ so sánh đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đối diện với lý thuyết xung đột mệnh đề.

Một mặt, chuyên gia lý thuyết chức năng cho rằng phát triển kinh tế sẽ dẫn đầu các xã hội công nghiệp để trở nên công bằng hơn và tận hưởng tỷ lệ cơ động xã hội cao hơn (Blau & Duncan (1967); Kerr, Dunlop, Harbison và Myers (1960); Parsons (1960); Treiman (1970).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ