CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Phần mềm kinh doanh và phần mềm quản lý nhà hàng Trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay các mô hình kinh doanh F&B đã, đang và sẽ từng bước chuyển đổi số bằng việc áp dụng các phần mềm kinh doanh, quản lý nhà hàng. Việc chuyển đổi số sẽ giúp ngành phát triển bền vững và gia tăng doanh thu đáng kể. Phần mềm kinh doanh (Business software) là các ứng dụng và chương trình máy tính được thiết kế để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp.
Phần mềm kinh doanh có thể bao gồm các ứng dụng quản lý khách hàng, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý sản xuất, quản lý chuỗi cung ứng và quản lý dự án. (Kean, 2023)[24] Các phần mềm kinh doanh được thiết kế để giúp doanh nghiệp tăng cường hiệu quả và hiệu suất của hoạt động kinh doanh, giảm chi phí, tối ưu hóa các quy trình và quản lý tài nguyên hiệu quả hơn. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tập trung vào các hoạt động chiến lược hơn, tăng cường cạnh tranh và cải thiện lợi nhuận. Các phần mềm kinh doanh có thể được tùy chỉnh để phù hợp với các nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
Hiện nay, có rất nhiều loại phần mềm kinh doanh khác nhau được cung cấp trên thị trường với các tính năng và chức năng khác nhau. Các doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng phần mềm kinh doanh phù hợp để đáp ứng nhu cầu của mình. - Phần mềm quản lý nhà hàng (Restaurant Management Software) là một loại phần mềm kinh doanh được thiết kế để hỗ trợ các hoạt động quản lý và vận hành của một nhà hàng. Phần mềm này cung cấp cho nhà hàng các 9 công cụ để quản lý các hoạt động như đặt bàn, quản lý thực đơn, quản lý kho hàng, thanh toán và phân tích dữ liệu khách hàng.
(REVFINE, 2022)[25] Với phần mềm quản lý nhà hàng, các nhà hàng có thể quản lý và giám sát tất cả các hoạt động của mình một cách hiệu quả hơn. Phần mềm này giúp giảm thiểu thời gian và công sức để thực hiện các tác vụ quản lý hàng ngày, giúp tiết kiệm thời gian và tài nguyên. Marketing Marketing là một khái niệm có nội hàm rộng lớn. Cho đến nay về học thuật vẫn tồn tại nhiều định nghĩa Marketing khác nhau tùy theo quan điểm nghiên cứu.
Dưới đây, chúng ta xem xét một số khái niệm: - Theo viện nghiên cứu Marketing Anh thì “Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hóa đó tới người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến.” (Trần Minh Đạo,2023)[3] - Theo Hiệp hội Marketing Mỹ định nghĩa “Marketing là tập hợp các hoạt động, cấu trúc cơ chế và quy trình nhằm tạo ra, truyền thông và phân phối những thứ có giá trị cho người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung”. (Trần Minh Đạo,2023)[3] - Theo Philip Kotler – giáo sư Marketing nổi tiếng của Mỹ thì “Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.” (Kotler Phillip , 2007)[4] Như vậy, các định nghĩa về Marketing đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự trao đổi lợi ích để qua đó thỏa mãn được các mục tiêu của cả người mua lẫn người bán. Việc nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng là hoạt động cốt lõi của Marketing. 10 Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả lựa chọn quan điểm của giáo sư Philip Kotler làm căn cứ.
Vai trò của marketing đối với kinh doanh của công ty: Marketing là một hoạt động chức năng của công ty/doanh nghiệp có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối toàn bộ hoạt động kinh doanh của nó với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty/doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm xuất phát điểm cho mọi quyết định kinh doanh. Marketing – mix Marketing – mix hay Marketing hỗn hợp là một trong những chiến lược quan trọng của kế hoạch Marketing. Theo giáo trình Marketing dịch vụ tài chính “Marketing – mix là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing đã xác định trên thị trường mục tiêu.” (Nguyễn Thị Mùi, 2009) [5] Marketing - mix của một công ty tại một thời điểm nào đó chính là sự phân phối giữa các yếu tố. Các yếu tố này có thể được điều chỉnh và thay đổ tùy theo thị trường và các khách hàng mục tiêu.
Tuy nhiên không thể thay đổi các. Yếu tố trong một thời gian ngắn. Vì vậy, trong ngắn hạn, các công ty không thay đổi phương án Marketing - mix đã lựa chọn, mà điều chỉnh một số yêu tố. Marketing – mix bao gồm bốn phần cơ bản là “4P”, bao gồm: Sản phẩm (Product), Giá (Price), Phân phối (Place), Xúc tiến hỗn hợp (Promotion).
Các yếu tố trong Marketing – mix có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp và đảm bảo sự thành công của sản phẩm hoặc dịch vụ. Cụ thể, vai trò của mỗi phần trong Marketing – mix như sau: 11 - Sản phẩm: Sản phẩm là yếu tố cốt lõi của bất kì hoạt động kinh doanh nào. Các doanh nghiệp cần phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng. - Giá: Giá là yếu tố quan trọng trong việc quyết định về việc mua hay không mua sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
Giá phải phù hợp với giá trị của sản phẩm và khả năng chi trả của khách hàng. - Phân phối: Phân phối đề cập đến các kênh phân phối để sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đến được tay khách hàng. Điều này bao gồm các cửa hàng bán lẻ, trang web, phương tiện truyền thông xã hội và các kênh bán hàng trực tuyến khác. - Xúc tiến hỗn hợp: Xúc tiến hỗn hợp là các hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng để thu hút khách hàng và tạo ra nhận thức về sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
Các hoạt động xúc tiến hỗn hợp bao gồm quảng cáo truyền thống, tiếp thị trực tuyến, các hoạt động PR, tổ chức sự kiện và khuyến mãi. Tổng thể, Marketing – mix giúp các doanh nghiệp định hình sản phẩm hoặc dịch vụ của mình để phù hợp với nhu cầu và mong muốn của khách hàng, đưa ra quyết định về giá cả và kênh phân phối phù hợp, và tạo ra các chiến dịch tiếp thị để thu hút và duy trì khách hàng trung thực. Nội dung Marketing – mix 1. Chính sách sản phẩm 1.
Khái niệm Sản phẩm theo quan điểm Marketing là tất cả những gì được đem ra chào bán (thu hút sự chú ý và mua sắm của khách hàng) trên thương trường với khả năng thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng. Sản phẩm trong Marketing bao gồm những hàng hóa hữu hình và những dịch vụ, 12 con người với sức lao động và sáng tạo, địa điểm, tổ chức và ý tưởng,… Hàng hóa và dịch vụ là cách gọi khác của sản phẩm. Các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm Có 3 yếu tố cấu thành sản phẩm dịch vụ bao gồm: Dịch vụ cốt lõi: Đây là lợi ích cốt yếu của sản phẩm dịch vụ, là giá trị cốt lõi mà khách hàng nhận được khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Dịch vụ hiện thực: Bao gồm bao bì, tên nhãn hiệu, vật hữu hình đi kèm, những tính năng cụ thể của sản phẩm dịch vụ.
Dịch vụ bổ sung: Là những quyền lợi đi kèm mà khách hàng nhận được từ sản phẩm dịch vụ như bảo hiểm kết hợp với đầu tư, phẫu thuật, nằm viện, dịch vụ chăm sóc khách hàng trước, trong và sau bán, sự thuận lợi trong thanh toán. Ở mỗi giai đoạn phát triển của vòng đời sản phẩm, doanh nghiệp cần có chiến lược Marketing khác nhau tương ứng. Chính sách sản phẩm bao gồm các hoạt động và giải pháp nhằm đề ra và thực hiện các chiến lược, chiến thuật về sản phẩm của doanh nghiệp. Các hoạt động này rất phong phú, bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, thiết kế, sản xuất và tung sản phẩm vào thị trường, cho đến các hoạt động xây dựng thương hiêu, nâng cao uy tín và tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Chính sách sản phẩm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chiến lược marketing của bất kỳ một doanh nghiệp nào điều đó xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu do sản phẩm là công cụ cạnh tranh bền vững nhất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách sản phẩm là cơ sở cho việc thực hiện triển khai và phối hợp một cách hiệu quả các chính sách khác: chính sách giá cả, chính sách phân phối và chính sách xúc tiến hỗn hợp. 13 Đối với các doanh nghiệp sản xuất thương mại và dịch vụ, để đáp ứng tốt nhất những mong đợi của khách hàng, nâng cao uy tín và hình ảnh của tổ chức, cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh, cần chú ý tới 5 quyết định sau: quyết định về nhãn hiệu, quyết định về bao bì, quyết định phát triển sản phẩm mới, quyết định về dịch vụ hỗ trợ sản phẩm, quyết định về danh mục sản phẩm.1: Ba cấp độ cấu thành sản phẩm Nguồn: (Trần Minh Đạo, 2007)[3] 1. Phân loại sản phẩm Các loại sản phẩm khác nhau thường phục vụ cho các nhu cầu khác nhau, do đó, hành vi mua của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau.
Vì vậy, việc phân loại sản phẩm rất cần cho việc lập kế hoạch marketing. Các quyết định về sản phẩm a. Quyết định về đặc tính Quyết định quan trọng nhất liên quan đến sản phẩm là quyết định về những lợi ích mà sản phẩm sẽ cống hiến cho khách hàng. Mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ tùy thuộc vào 14 mức độ cống hiện lợi ích cho khách hàng của sản phẩm.
Về phần mình lợi ích của sản phẩm lại được thể hiện qua các đặc tính của nó, như: chất lượng, tính năng và kiểu dáng,… Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ với nhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng những nhóm khách hàng, hay thông qua những kiểu tổ chức thương mại hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá.